chiến dịch Tailwind

 16 lính lực lượng đặc biệt của chiến dịch Tailwind


Mình hay vào các nhóm cựu chiến binh Mỹ tại Việt Nam để đọc những gì họ kể về thời chính chiến của họ tại Việt Nam cũng như còm khi thấy tin tức họ đưa không chính xác lắm. Hôm nay đọc được một nhóm 16 lính lực lượng đặc biệt của họ đột kích vào Hạ Lào cùng với lực lượng dân sự chiến đấu gốc thượng đâu 110 người thấy lạ lạ vì khi họ xâm nhập vào Hạ Lào là bí mật, không bận áo quần lính Mỹ, bị bắt cũng kêu không phải lính Mỹ vì nước Lào là trung lập Hoa Kỳ không được đánh đấm gì cả. Em xin tóm tắt lại đây. 


Theo mình hiểu là lực lượng đặc biệt Mỹ hay đóng đồn với các người thượng mà người Việt gọi là Dân Sự Chiến Đấu. Thiếu tá Phong của tiểu đoàn 204, Đại đội trinh sát 302, trước khi về Đà Lạt thì đóng ở trại lực lượng đặc biệt ở vùng tam biên, nơi có hiểu người thượng sống với vợ con trong đồn. Họ thì cũng lắm. 


Trong cuộc chiến Việt Nam nước Lào và Cam bốt tuy trung lập nhưng lại để bộ đội cụ hồ sử dụng lãnh thổ của họ để đưa quân và súng đạn vào chiến trường miền nam. Việt Nam Cộng Hoà và Hoa Kỳ bị bó tay vì muốn tôn trọng công ước quốc tế khác với Hà Nội. Do đó Hoa Kỳ hay chỉ lực lượng đặc biệt xâm nhập vào Hạ Lào để theo dõi quá đội của Hà Nội nhưng phải bí mật. Tương tự trước khi đánh chiếm Iraq, Á Phú Hãn,..  lực lượng đặc biệt Hoa Kỳ đều được thả vào mấy xứ này trước khi đánh vào. Mình nghĩ trước khi đánh Ba Trung Quốc Hoa Kỳ cũng chi biệt kích của họ xâm nhập vào xem xét tình hình và báo cáo trước khi Mỹ và do thái dội bom. 


Mình có em một phim tài liệu kể một toán SAS của Anh quốc được thả vào Iraq tham thính rồi bị một đứa bé chăn cừu phát hiện. Họ không nở ra tay giết đứa bé thì đứa bé chạy về làng báo cáo và cả trung đoàn lính Iraq bao vây và bắt sống vài người cùng như giết một số. Mình đoán ngày nay biệt kích mà gặp trưởng hợp tương tự chắc họ sẽ giết hết để trừ hậu hoạn. 


Cuộc hành quân này không phải là một đội trinh sát nhỏ như thực lệ mà bao gồm 16 lính lực lượng đặc biệt và 110 lính gốc thượng du Việt Nam.  Theo mình hiểu biệt kích của Mỹ thường đi từng nhóm nhỏ độ 6 người nên khi đi 16 người là chiến dịch lớn. 


Cả nhóm này được trực thăng bốc gần Dakto trên cao nguyên trung phần, sử dụng trực thăng CH-53 Sea Stallion hạng nặng . Mục đích chính của chiến dịch tìm cách đánh lạc hướng 30,000 bộ đội bác hồ cho một cuộc hành quân khác do CIA đang thực hiện trong vùng. 


Ngày 11 tháng 9 năm 1970. Từ Dakto đến điểm xuất phát, Cao nguyên Trung phần, Việt Nam Cộng hòa. Không khí trên sân bay không có mùi thơm không khí buổi sáng mà mang mùi nhiên liệu JP4 hàng không, mồ hôi lâu ngày và mùi kim loại sắc nhọn của dầu súng. Đó là một dung dịch nặng nề, ngột ngạt bám vào cổ họng. 16 người Mỹ đứng trong bóng của những chiếc trực thăng CH-53C Stallion khổng lồ.


Họ không giống những người lính bóng bẩy trên các bảng quảng cáo tuyển mộ ở Mỹ. Bộ đồ ngụy trang sọc hổ của họ đã phai màu, dính đầy đất sét đỏ của vùng Cao nguyên. Những chiếc ba lô không phải loại tiêu chuẩn. Chúng được cải tiến, nặng hơn 80 pound. Rất nặng. Mình đi bộ 375 km ở Ý Đại Lợi đeo theo có 20 cân anh đã thấy oải. 


Họ mang theo súng máy RPD cưa ngắn, súng carbine CAR-15, và đủ lựu đạn phân mảnh để san bằng một khu phố. Họ là những người của MACV-SOG. (Military Assistance Command, Vietnam Studies and Observations Group). Tên gọi che đậy gợi ý nghiên cứu học thuật. Thực tế là sự phủ nhận được viết bằng máu của người lính kiên cường. 


Trong số họ có Đại úy Gene McCarley. Ông là One Zero. Người chỉ huy đội. Ông kiểm tra đồng hồ. Ông nhìn sang các chiến binh bản địa đứng bên cạnh người Mỹ. Có 110 người. Người Montagnard, tên do người Pháp đặt tên, những người sống trên núi. Họ là các bộ tộc miền núi của Việt Nam. Những người coi rừng rậm không phải là môi trường thù địch mà là ngôi làng bị xâm lược. Họ căm thù Quân đội Bắc Việt với lòng thù hận qua nhiều thế hệ.


Hôm nay, McCarley và 16 lính llđb cùng với đại đội lính đánh thuê Montagnard này đang thực hiện một việc mà về mặt kỹ thuật là không từng xảy ra. Theo các bản đồ chính thức ở Washington DC và theo các buổi họp báo dành cho công chúng Mỹ, không có quân chiến đấu Mỹ nào ở Lào. Mình có kể một căn cứ biệt kích Mỹ ở Hạ Lào mà quân đội Mỹ dùng làm điểm để hướng dẫn B 52 thả bom tại miền bắc Việt Nam sau đó bị đặc nhiệm chiếm đóng. 


Thông tin bổ sung chi tiết về Operation Tailwind (Chiến dịch Đuôi Gió). Operation Tailwind là một cuộc đột kích bí mật xuyên biên giới do MACV-SOG thực hiện từ ngày 11–14 tháng 9 năm 1970 (một số tài liệu ghi chính từ 11–13). Đây không phải là đội trinh sát nhỏ (RT team) mà là một lực lượng Hatchet Force cỡ đại đội — một đơn vị đột kích lớn.


Lực lượng gồm 16 lính biệt kích Mỹ (Green Berets) dẫn đầu 110 lính Montagnard (Bru hoặc các bộ tộc miền núi khác), xuất phát từ gần Dak To, Cao nguyên Trung phần Việt Nam, bằng trực thăng CH-53 Sea Stallion của Thủy quân Lục chiến Mỹ.


Mục tiêu của chiến dịch nhằm tạo  sự phân tán các sư đoàn bộ đội bác hồ  bằng cách đột kích sâu vào đông nam Lào (khoảng 60–70 km về phía tây Dak To, gần Chavane và tuyến đường 165 Lào). Nhiệm vụ nhằm kéo lực lượng Quân đội Bắc Việt (NVA) đặc biệt là các đơn vị thuộc Nhóm Vận tải 559 bảo vệ Đường mòn Hồ Chí Minh khỏi một chiến dịch khác do CIA hỗ trợ liên quan đến lực lượng Hmong do tướng Vang Pao lãnh đạo ở Cao nguyên Bolovens phía bắc. Con số “30.000 bộ đội” trong một số kể lại phổ biến có thể là ước tính tổng lực lượng địch trong khu vực hoặc lực lượng bảo vệ Đường mòn có thể bị ảnh hưởng/chuyển hướng, chứ không phải đối đầu trực tiếp 30.000 quân tại một điểm. 120 mạng đâu có thể đánh lại 30,000 bộ đội ngoài trừ người Mỹ có anh hùng Lê Văn Tám. 


Các sự kiện chính được kể lại sau đây:


Ngày 11/9: Đổ bộ bằng trực thăng vào thung lũng, di chuyển mạnh để tiếp xúc và thu hút sự chú ý. Mình đoán biệt kích là âm thầm mà họ muốn Việt Cộng biết sự có mặt của họ. 

Giao tranh: Trong vài ngày, họ đụng độ nặng nề với NVA, chiếm một khu trại lớn và trung tâm hậu cần (hầm ngầm), tiêu diệt hàng chục lính NVA (một con số ghi nhận 54 người trong một lần đột kích). Họ thu được lượng tình báo khổng lồ: hàng trăm trang tài liệu, bản đồ được coi là một trong những thu hoạch tình báo quan trọng nhất về Đường mòn Hồ Chí Minh từ đầu chiến tranh. Mình có người chú ruột bị chết trên đường vào nam tại vùng này. 


Hiệu quả phân tán: Thành công kéo sự chú ý và lực lượng NVA về phía nam, hỗ trợ cho lực lượng Hmong/CIA đang hoạt động trong vùng. 


Rút lui (13–14/9): Khi NVA tăng viện (pháo cối, súng máy, quét lớn), họ rút lui trong giao tranh. Sử dụng nhiều LZ nhỏ để đánh lừa kẻ địch. Hỗ trợ không quân mạnh mẽ: 72 phi vụ chiến đấu, bom, rocket, napalm. Một số trực thăng CH-53 bị hư hại hoặc mất.


Thương vong: Phía Mỹ và đồng minh: Tất cả 16 người Mỹ bị thương (tổng cộng khoảng 33 Huân chương Tím). 3 Montagnard tử trận, 33 bị thương.


Phía địch: Khoảng 144 NVA bị tiêu diệt trực tiếp bởi lực lượng mặt đất, ước tính thêm 50 bị thương và 288 bị không quân tiêu diệt.

Kết quả: Nhiệm vụ thành công, hỗ trợ CIA/Hmong, thu được tình báo lớn. Đại úy Eugene C. McCarley (sau này là Trung tá) chỉ huy, được đề cử Huân chương Thập tự Dũng cảm (downgraded). Y tá Gary Michael Rose sau này được trao Huân chương Danh dự (nâng cấp năm 2017) nhờ cứu chữa dưới hỏa lực.


Câu chuyện này nổi tiếng hơn sau báo cáo gây tranh cãi năm 1998 của CNN/Time (sau rút lại) cáo buộc sử dụng vũ khí hóa học (khí CS, không phải sarin). Các cựu binh bác bỏ mạnh mẽ.


Chiến dịch Đuôi Gió (Operation Tailwind), một tài liệu mật mới được giải mã gần đây về một chiến dịch bí mật được chỉ huy bởi MACV-SOG (Military Assistance Command, Vietnam – Studies and Observations Group) trong 4 ngày từ  11–14, tháng 9 năm 1970 (có tài liệu cho biết chỉ có 3 ngày 11-13).


Để rảnh mình kiếm đọc các tài liệu mật được giải mã sau mấy chục năm để hiểu thêm về cuộc chiến khá phức tạp, để hiểu lý do Việt Nam Cộng Hoà và Hoa Kỳ thua. 


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Tỷ phú một thời

 Tỷ phú một thời 


Cách đây mấy năm lùng bùng có một ký giả gốc saudi arabia vào tòa lãnh sự của xứ này tại Thổ Nhĩ Kỳ rồi biến mất, không trở ra khiến cô bồ la toáng lên. Nghe nói họ xem video an ninh ngoài đường thấy an ninh tòa lãnh sự vác xác ông ta được chặt từng khúc đem ra ngoài đi quăng. Chán Mớ Đời 


họ của ông ta thấy quen quen vì khi xưa khi mình ở Âu châu tên dòng họ rất nổi tiếng với hình ảnh các minh tinh màn bạc với mấy cô người mẫu đẹp như đầm lên tàu của ông ta chơi như ả rập. Dòng họ Khashoggi của xứ sa mạc đầy dầu mỏ. 


Tỷ phú Adnan Khashoggi rất nổi tiếng một thời, sinh tại thành phố Mecca nơi các tín đồ hôi giáo muốn đi hành hương như người công giáo muốn đi đến Lộ Đức, Fatima, jerusalem… bố ông ta là bác sĩ riêng của vua xứ này. Ngự y của hoàng cung nên được sống gần hoàng gia. 

Ông ta theo học trường Victoria College ở Alexandria, thường được gọi là "Eton of Egypt," nơi các bạn học toàn là những con cháu của vua và bộ trưởng trong tương lai. Vấn đề là ông thần Adnan này không muốn trở thành bác sĩ hay nhà ngoại giao, ông ta chỉ muốn có tiền và thật nhiều tiền.


Khi đi học ông ta đã tỏ ra có khiếu thương lượng. Bố Một người bạn học người Libya cần mua khăn lông và bố một người bạn gốc Ai Cập sản xuất khăn lông thế là ông thần này giới thiệu hai người và được tiền huê hồng là $1,000 thời ấy là biết bao nhiêu tiền chỉ cần gọi điện thoại. Ông ta đột phá tư duy là có khiếu về làm môi giới. Nên theo con đường này đã khiến ông ta nổi tiếng và giàu có nhất thế giới một thời nhờ vào cái mồm và. Cái bắt tay. 


Vào thập niên 1960, dầu hỏa của xứ Saudi Arabia bổng nhiên phát giàu lên và xứ này muốn hiện đại hóa nên ông ta làm môi giới, bắt cầu giữa các thầu khoán Tây phương và hoàng gia. Ông ta trở thành người môi giới bán vũ khí tại các buổi tiệc xa hoa. 


Trong 5 năm công ty Mỹ Lockheed trả ông ta $106 triệu tiền huê hồng. Lúc đầu là 2.5% rồi lên 15% như tổng giám đốc của công ty này cho rằng ông ta là người quảng cáo súng đạn của công ty cho mọi người. 


Vào năm 1985, tài sản ông ta được đánh giá là 4 tỷ mỹ kim theo thời đó thì nhân gấp mấy lần bây giờ.  Ông ta làm chủ du thuyền Nabila khiến đàn ông thanh niên như mình thèm nhỏ dãi khi xem hình ảnh mấy cô đẹp như Tây bận bikini đi trên tàu uống rượu. Du thuyền được quay trong phim James Bond hình như phim Never Say Never Again. Ông ta có tài sản ở 

Marbella, Paris, Madrid, Cannes, London, New York. 


Đến năm 1979, bà vợ ông ta buồn đời nạp đơn ly dị sau gần 20 năm lo chu toàn nhà cửa, con cái và chuyện làm ăn. Sau 5 năm hầu tòa  ông ta phải trả cho bà ta $884 triệu giá tương đương ngày nay là $2.8 tỷ đô la. 


Vào thập niên 1990, giá dầu xuống vì liên sô sụp đỗ nên chả ai buồn mua súng ống khiến chuyện làm ăn của ông ta bắt đầu banh ra lông vì cứ tiếp tục ăn chơi. Ông ta dính vào xì căn đan Iran-Contra nên bị lộn xộn về pháp lý. 


Trước đó tài sản được xem là $4 tỷ nay chỉ còn $8 triệu. Du thuyền Nabila phải bán để trả nợ, sau này ông Trump mua lại có $29 triệu rẻ như bèo. Rồi ông Trump bị lộn xộn với sòng bài Taj  Mahal của ông ta nên bán lại cho một hoàng tử Saudi Arabia. Mối tình của ông Trump với hoàng hậu ả rập bắt nguồn từ thời ấy nên sau này ông ta làm tổng thống được tặng một chiếc phi cơ to đùng. 


Khi hết tiền thì bạn bè gái gú cũng bỏ chạy cho thấy thế thái nhân tình. Rồi những năm tháng cuối đời ông ta bị Packinson. Một người từng nhảy mẫm ở với các nữ tài tử danh tiếng khởi giả đi một mình được. 


Ngày 6 tháng 6 năm 2017, ông

Adnan Khashoggi chết tại Luân Đôn thọ  81 tuổi. Cháu ông ta Jamal Khashoggi, dự đám tang nhưng Chán Mớ Đời với sự tiêu xài của ông ta rồi có lẻ bất mãn về sự xa hoa của giới hoàng tộc, ông này là nhà báo viết chỉ trích nên vua con ra lệnh thủ tiêu mà báo chí làm tùm bệnh nhưng chính phủ Biden kêu vớ vẩn không xen vào chuyện thiên hạ. 


Cuộc đời ông Adnan Khashoggi được xem là hình ảnh của sự xa hoa và cho thấy sự đi xuống của tài sản ông ta quá nhanh chóng . Ông ta đã chứng minh cho chúng ta là có tài sản khắp nơi trên thế giới nhưng rồi cuối đời chỉ còn có $0.47 trong ngân hàng. Chán Mớ Đời 


Một người đã chứng tỏ mình là người giàu có nhất thế giới rồi cuối đời cho chúng ta thấy đời là vô thường gia đình xa lánh, bạn bè rời xa khi không còn gì cả. Anh có tài sản như mật ngọt nên ruồi bu đông kiến, ca tụng anh để được ăn tiệc lá bồ đề rồi khi anh hết tiền thì em không thèm đến. 

Nhưng con người cứ tiếp tục lao vào tranh dành như những con thiêu thân bay vào đống lửa để khẳng định bố mày là ai. Người giàu có bật nhất thế gian thuở mình còn trẻ thấy những hình ảnh của ông ta được các người nổi tiếng, gái đẹp bị quanh để rồi khi chết cô độc không còn gì ngoài những âm thanh ngày xưa. 


Có lẻ lỗi lầm lớn nhất của ông ta là ly dị bỏ bê bà vợ đầu tiên. Bà ta là người Anh quốc, trở về đạo hồi giáo để làm vợ ông ta. Chăm sóc 5 đứa con và tài sản nhưng đàn ông hay mắc phải lỗi lầm là không để ý tới những điểm đó mà chạy theo các cô trẻ đẹp, tân trang này nọ để rồi khi người đàn bà sau lưng bỏ đi thì không còn chỗ nương tựa và cuộc đời đi xuống như diều đứt dây. Chán Mớ Đời 


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Viếng Kênh Panama

 Kênh Panama


Hôm nay mình đi viếng kênh Panama, một trong những nơi trên thế giới mà mình có hoài bảo viếng. Ăn sáng xong thì tàu cập bến Colon, Colon để nói đến ông Kha Luân Bố (cristofo colombo ). Bên Mỹ thì họ đập tan tượng của ông Kha Luân Bố thậm chí anh hùng lao động César Chavez mà tổng thống Obama tuyên bố cuối tháng 3 là ngày nhớ ơn người anh hùng lao động này nay họ dẹp hết hình ảnh của ông ta và tượng đài tại Hoa Kỳ vì khám phá ra ông ta cũng thuộc hạng dê xòm chi đó. Hôm qua là anh hùng hôm nay là hùng anh. Chán Mớ Đời 


hai vợ chồng dắt nhau xuống bến tàu. May quá chỗ đợi lên xe tour rất gần xem như ngay cửa cổng bến tàu. Thấy công ty của mình ra đón là vui đời. Xe có vợ chồng mình là người Mỹ thêm 5 người Mễ Tây cơ và một đại gia đình Ấn Độ đến từ Gia-nã-đại nên ông thần hướng dẫn viên phải nói hai thứ tiếng. 


Điểm đến đầu tiên là Miraflores, Panama, nổi tiếng là bến tàu bên Thái Bình dương, đúng hơn là Agua Clara, được xem là nơi du khách đến thăm nhiều nhất. Giá du khách là $10/ người tiền địa phương tương đương tiền đô la. 


Mình có ghi lại bản đồ vẽ cách thiết kế. Viếng cái kênh này khiến mình nhớ khi xưa ở Petit Lycee học vụ phà đi qua con kênh Saint Martin ở Paris. Thấy hình vẽ này nọ trong sách Leçons des Choses nên khi sang Paris là mình chạy ra con kênh Saint Martin xem và vẽ ở đó nhiều lần. 


Đâu tương tự từ biển Thái Bình qua biển Đại Tây Dương vùng Caribe cách nhau độ 16 mét chiều cao. Họ làm con kênh được chia thành 3 khúc. Mình thấy họ rút cái cửa chắn đầu tiên để cho nước tràn vào cái khúc tiếp theo rồi có 1 chiếc tàu gọi tugboat kéo chiếc tàu của Tân gia ba chở khí đốt vào con kênh, phía sau có một chiếc tàu tugboat khác chạy phía sau cột dây xích hai bên sau chiếc tàu để tránh tàu bị lệch hay lật khi nước trong con kênh bị rút để tàu hạ thấp xuống. Khi tàu vào vòng 1 thì họ đóng cổng lại và rút nước của khu vực một. Cứ mỗi khúc như vậy mất độ 30 phút. Coi cho vui để hiểu rồi phải lên xe chạy viếng thủ đô Panama. 


Khi người Tây Ban Nha xâm chiếm Châu Mỹ để tìm vàng bạc thì có ông thần tên Balboa tìm ra vùng này nên đi đâi cũng thấy tên ông ta. Ông ta tìm ra bạc nhưng vấn đề là nằm phía Thái Bình Dương. Ông ta báo cáo cho vua Charles Quint mà khi xe ông Tây bắt mình học chết bỏ về ông thần này, khiến ông vua kêu mấy quan triều đình tính toán việc đào con kênh từ đại Tây dương qua Thái Bình dương. Nhưng không tiền. Đành làm ha con đường. 


Sau này ở thế kỷ thứ 19, mấy ông thực dân pháp buồn đời nghĩ nên xây con kênh này để chạy từ đại Tây dương qua Thái Bình dương không phải để vòng xuống phía nam của Châu Mỹ rồi đi bọc lên mất mấy ngàn cây số nhất là khúc này là vùng giao thoa của hai biển nên sóng to kinh hoàng. Mình đã trải nghiệm khi đi Antarctica nằm trong phòng mà chai ly rớt xuống sàn nhà. Hai vợ chồng gần ói luôn. 


Thật ra ý tưởng đào con kênh đã có từ lâu và có người muốn đào ở nước Nicaragua. Đến khi nó khởi sự vào năm 1881 và ngưng năm 1889. người Pháp hồ hởi sau khi thành công đào con kênh Suez ở Ai Cập năm 1869 nên thừa thắng xông lên họ kêu không có gì mà người Pháp không làm được ngoại trừ uống rượu đỏ với đá lạnh như người Mỹ. 


Thế là người Pháp chơi ngay, họ để ông Ferdinand de Lesseps đứng đầu một công ty người Pháp để thực hiện đào con kênh này qua vùng Panama, thuộc xứ Columbia. Họ khởi đầu năm 1881 rất lạc quan nhưng rồi công trình vướng phải những vụ đất sụp và nước ngập. Nên nhớ Ai Cập chỉ toàn là sa mạc, mình có đi tàu trên con kênh Suez này, nhìn xung quanh chỉ thấy cát và cát trong khi vùng này thì rừng rậm và bệnh sốt rét đã giết trên 20,000 nhân công đến từ các thuộc địa của pháp ở Châu Mỹ như Guadeloupe, Haiti,… rồi gặp vấn đề tài chánh mà người Pháp gọi Les scandales de Panama và công ty khai phá sản vào năm 1889. Thế là các nhà đầu tư pháp bỏ của chạy lấy người. 


Đến năm 1904, người Mỹ dưới sự lãnh đạo của tổng thống Roosevelt do dự giữa đào con kênh Panama hay Nicaragua. Được tin này thì ông Tây của công ty phá sản mới viết thư cho 100 thượng nghị sĩ Hoa Kỳ đề cập đến xứ Nicaragua có núi lửa, giông bão bú xưa la mua khiến quốc hội Hoa Kỳ chọn Panama để có thể trả cho một ít những gì đã chi tiêu. 

Cuối cùng họ chọn Panama thì xứ Columbia không chịu. Thế là anh Mỹ kêu mi không chịu thì tao kêu dân vùng này đòi tự trị dành độc lập. Thế là cho tiền dân vùng này nổi dậy đòi độc lập. Trong tương lai sẽ chơi trò này ở Greenland. 


Thế là tháng 11 năm 1903, Panama tuyên bố độc lập với tàu chiến của Hoa Kỳ nằm gần bờ. Và sau đi ký hiệp ước Hay-Bunau-Varilla Treaty, cho phép Hoa Kỳ kiểm soát 10 dặm xung quanh vùng con kênh muôn năm và trả mỗi năm $10 triệu đô la. 


Công trình khởi đầu năm 1904 bởi các kỹ sư của quân đội Hoa Kỳ với bác sĩ William Gorgas chỉ huy chương trình diệt muỗi và bệnh sốt rét.


Họ sử dụng hồ Gatun sau khi chận con sông Chagres để nâng tàu lên cao 85 cao bộ trên mặt biển. Đào con kênh kiểu này họ cần nước rất nhiều. Nước hồ được sử dụng khi họ cho tràn vào các bể nước để cho tàu đi chuyển đến. Có đến 40,000 nhân công và đâu 5,600 người thiệt mạng. Đa số đến từ Barbados Jamaica. 


Luôn tiện nhắc luôn là dân số ở nước Panama chưa tới 4.5 triệu người nhưng như Hoa Kỳ đủ thứ dân đến để đào con kênh. Lúc đầu từ các thuộc địa cũ của Pháp quốc rồi đến khi Hoa Kỳ thực hiện thì kêu gọi dân từ các thuộc địa Anh quốc đến cũng như của Hoa Kỳ. Do đó người dân ở đây nói tiếng Tây Ban Nha nhưng đủ loại dân, hôm nay có thấy ngừi sở tại, sắc tộc thiểu số, đang thấp múa hát ở công trường trong thành phố để kiếm tiền. 


Con kênh được khánh thành ngày 15 tháng 8 năm 1914, Hoa Kỳ tốn tổng cộng $500 triệu đô là thời ấy, ngày nay thì tính tiền tỷ. 


Những năm thập niên 70, dân tình chống đối với sự giúp đỡ của Liên sô nên tổng thống Carter kêu thôi trả lại con kênh này cho họ. Vấn đề là chính phủ xứ này không có khả năng  cai quản nên giao cho các công ty ngoại quốc thầu và mỗi chuyến tàu đi qua phải trả trước 2 triệu đô la tối thiểu. Rồi anh ba tàu nhảy vào cai quản nên khi ông Trump lên kỳ hai, việc đầu tiên là sai ngoại trưởng Rubio bay sang xứ này và nói sao đó để công ty Blackrock của Mỹ kiểm soát không để anh ba tàu làm nữa. (Còn tiếp)


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Cà phê Việt Nam phê như Tây

 Cà phê Việt Nam xuất cảng thứ 2 trên thế giới 


Mình có hai cô em có tiệm bán cà phê Chez Nous ở đường Phan Đình Phùng nên tò mò về cà phê Việt Nam. Em mình cho biết cà phê ở tiệm hai em dùng nguyên chất cà phê, không có pha bắp rang này nọ. Đi chơi nên mình tò mò tìm tài liệu đọc về cà phê thì thất kinh khi biết được ngành trồng cà phê ở Việt Nam sau 75 được phát triển nhờ anh em xã hội chủ nghĩa đông đức mới được như hôm nay. Anh em đông đức thì giúp trong khi anh em Trung Cộng thì chỉ muốn em mình chết. 


Ai cũng biết cà phê được người Pháp đem qua trồng tại Việt Nam khi họ chiếm đóng và cai trị nhằm sản xuất cà phê đem về mẫu quốc bán. Cà phê được người Pháp đưa vào Việt Nam khoảng 1857–1888. Ban đầu trồng thử ở các nhà thờ Công giáo (Ninh Bình, Quảng Bình). Sau đó phát triển thành đồn điền lớn ở cao Nguyên (Đắk Lắk, Lâm Đồng)


Khởi đầu người Pháp cho trồng Arabica. Sản xuất phục vụ xuất khẩu về Pháp, người Việt ít dùng. Hình thành tầng lớp đồn điền và lao động cưỡng bức như các vườn cao su. Đây là giai đoạn đặt nền móng cho ngành cà phê tại Việt Nam, nhưng chưa phải “cà phê Việt” như ngày nay. 


Sau 1954, đất nước chia đôi: Miền Bắc theo kinh tế kế hoạch, cà phê ít phát triển vì gạo còn thiếu ăn thì tiền đâu mà uống cà phê nhất là được xem thức uống thực dân. Miền Nam vẫn duy trì một số đồn điền cà phê nhưng sau này chiến tranh lan tràn nên có nhiều nơi đóng cửa.


Văn hóa cà phê phin bắt đầu phổ biến với người Việt vì uống cà phê được xem là ngang hàng như mấy ông tây bà đầm, như thuộc về tầng lớp trưởng giả, trí thức như Đà Lạt có tiệm cà phê Tùng nổi tiếng nhờ các nghệ sĩ, nhạc sĩ và nhà văn hay ngồi rồi từ từ được bình dân hoá tại miền nam. Cà phê phin đến từ từ pháp ngữ “filtre”, nghĩa là lọc, trở thành thức uống đô thị (Sài Gòn). Mình nhớ ở chợ Đà Lạt có hàng chú Lìn bán cà phê buổi sáng với dầu cha quẩy. Chú bỏ cà phê trong cái vợt rồi bỏ trong cái ấm nước sôi. Ai kêu cà phê là chú đỗ vào ly thêm sữa đặc ông Thọ. Người mua lấy cái muỗng khuấy uống lấy dầu chả quẩy chấm vô ly cà phê ăn nhai như Tây. Tuy nhiên, sản lượng vẫn nhỏ, chưa có vai trò kinh tế lớn như ngày nay. Thường nghe cà phê Ba Mê Thuột, hình như dạo đó Đà Lạt ít ai trồng. 


Mình có nghe kể là khi xưa người ta hay xin hay mua lại chất nhựa dính nơi cái tẩu thuốc phiện để pha với cà phê khiến người uống cà phê ghiền và ghé lại vui lòng khách đến vừa lòng khách sau thuốc đi. 


Sau 1975, Việt Nam áp dụng mô hình hợp tác xã với chính sách ngăn sông cấm chợ nên ngành cà phê te tua vì thiếu vốn, thiếu kỹ thuật nên sản lượng thấp. Làm theo năng suất hưởng theo nhu cầu nên thằng nào cũng tà tà nên kinh tế banh ra lông đến nổi ông Phạm Hùng phải cho người sang pháp vấn kế ông Bùi Kiến Thành, con trai bác sĩ Tín, từng làm cố vấn cho ông Ngô Đình Diệm. Ông Thành kêu từ thời ban sơ đến nay chưa có một dân tộc nào có lãnh đạo nghèo trở nên giàu vì họ không biết gì về kinh tế và tài chánh. 


Tại đông Đức vào thời đó họ có vấn đề cung cấp cà phê cho cả nước dùng cũng như chuối từ Cuba. Thế là họ đột phá tư duy kêu Hà Nội hợp tác trồng cà phê và chia nhau 50/50. Bên có kỹ thuật bên có lao công và đất đai. Đông đức cấp vốn, máy móc, kỹ thuật. 


Mình đoán người Đức rất kỹ lưỡng nên đi đo dạt khắp nơi và quyết định, chọn địa điểm trồng tại Cao Nguyên (Đắk Lắk). Chương trình hợp tác hữu nghị chuyển sang trồng Robusta (phù hợp khí hậu, năng suất cao) và xây dựng các nông trường lớn. Nền tảng để Việt Nam trở thành cường quốc cà phê sau này. Điểm may cho Hà Nội là liên sô sụp đỗ sau khi người đông đức đầu tư chuyễn giao công nghệ cho Việt Nam nên không phải trả nợ cho đông đức theo hợp đồng. Khi không có đàn anh quốc tế đến viện trợ trồng cây cho máy cày máy bơm tưới nước rồi lăn ra chết. Hà Nội hưởng hết nếu không thì có lẽ không trở thành nước thứ hai sản xuất cà phê trên thế giới. 


Chính sách Đổi Mới (1986) chuyển sang kinh tế thị trường. Nông dân được tự trồng và tự bán. Kết quả là diện tích trồng cà phê tăng chóng mặt, gấp 20 lần. Việt Nam trở thành quốc gia xuất cảng cà phê thứ 2 trên thế giới và số 1 về loại cà phê Robusta, cà phê trở thành ngành kinh tế mũi nhọn cho Hà Nội. Mình tìm thấy tài liệu trên mạng về Đông Đức đầu tư như sau:


20 triệu USD xây nhà máy thủy điện Dray Linh. Cung cấp: xe tải, máy móc cơ giới, hệ thống tưới. Đây là cực kỳ quan trọng vì cao nguyên lúc đó gần như chưa có hạ tầng nông nghiệp hiện đại. Xem hình ảnh khi xưa vùng này Chán Mớ Đời 


Kế hoạch sử dụng 70,000 ha cà phê được quy hoạch và trên thực tế nông trường này trở thành đồn điền lớn nhất Việt Nam lúc bấy giờ. Năm 1975: cả Đắk Lắk chỉ có ~3,700 ha. Năm 1990: tăng lên 76,000 ha, gấp 20 lần. 


Khoảng 10,000 người từ miền Bắc được di dời đến vùng này để phục vụ sản xuất. Ngày nay dân tình ở đây đa số nói giọng Bắc. Đông Đức xây nhà ở và hệ thống cung ứng (trường học, y tế), một dạng “khu kinh tế nông nghiệp kiểu XHCN”. 


Vấn đề ngày nay Việt Nam đứng thứ hai về xuất cảng cà phê nhưng lại bán với giá bèo so với Ba Tây và Columbia. Làm nhiều nhưng ít lời. Đó là nền kinh tế Việt Nam hiện đại tương tự với gạo được xem là nước thứ 2 trên thế giới sản xuất gạo và xuất cảng đến nổi nghe nói đem viện trợ cho Cuba. 


So sánh Việt Nam – Brazil – Colombia không chỉ là chuyện “ai trồng nhiều hơn”, mà là ai bán được nhiều tiền hơn trên mỗi hạt cà phê. Và kết quả khá bất ngờ: Việt Nam xuất khẩu nhiều nhưng giữ giá trị thấp nhất. Vụ này tương tự gạo và nước mắm. Thái Lan và Cao Miên xuất cảng gạo đắt tiền hơn Việt Nam. Mình thường nghe thiên hạ kêu người Việt mình thông minh nên sản xuất nhiều nhưng lại ít lời hơn mấy nước khác. 

Việt Nam ta quyết tiến lên hàng đầu"...“Đi đâu không biết đi đâu? Đi đâu không biết hàng đầu cứ đi…”

Việt Nam chạy theo thành tích vì quen với tư duy của chế độ cộng sản. Nên càng sản xuất nhiều sẽ tuyên dương là anh hùng lao động bủa xua la mua trong khi các nước kia họ trọng chất lượng ít xịt thuốc sâu nên ngoại quốc thích và đồng ý mua giá đắt hơn vì có chất lượng. Một ông bộ trưởng ấn độ tuyên bố một câu xanh dờn là không cần trồng lúa vì có thể mua của Việt Nam với giá bèo.

🇻🇳 Việt Nam (Robusta)

~2 – 3 USD/kg

🇧🇷 Brazil

~3 – 5 USD/kg

🇨🇴 Colombia

~4 – 7 USD/kg


Việt Nam – “bán nguyên liệu”85–90% xuất khẩu dạng cà phê thô, Ít thương hiệu toàn cầu mạnh. Mình thấy cô nào ở New York tìm cách tạo dựng thương hiệu cà phê việt lấy thương hiệu là Nguyen thì phải. Mình đọc đâu đó lâu rồi. Họ mua hay trồng ở Việt Nam rồi sẽ kể câu chuyện về loại cà phê này. Hy vọng họ sẽ thực hiện được vì sống bên Mỹ nên hiểu người Mỹ hơn. Tương tự cà phê 7 lá (7leaves) do người Việt  ở Mỹ thành lập rất thành công. Nghe nói có đến 2,000 nhân viên khắp nước Mỹ. Mình có gặp mặt ông chủ này rất trẻ có đến vườn bơ mình hái trái một lần. Có lần định hỏi ông ta có nên trồng cà phê để bán tại nước Mỹ nhưng rồi quên mất. Vấn đề ở trồng ở Hoa Kỳ thì bán giá gấp 10 lần các xứ khác vì nhân công đắt. 


Brazil – “cân bằng sản lượng & công nghiệp” : Xuất khẩu thô (rất lớn), Ngành rang xay nội địa mạnh với các Doanh nghiệp lớn như: JDE Peet’s và Nestlé (đặt nhà máy lớn)


Trong khi đó thì Colombia – sử dụng “bán câu chuyện + thương hiệu” kiểu Starbucks, Có tổ chức cực mạnh: National Federation of Coffee Growers of Colombia, Thương hiệu quốc gia: Juan Valdez. Bán không chỉ cà phê mà còn tạo dựng “ Single origin”,  “Farmer story, Premium Arabica” và giữ lại: 40–50% giá trị chuỗi

Khâu

Việt Nam

Brazil

Colombia

Nông dân

$0.20

$0.40

$0.60

Xuất khẩu

$0.30

$0.50

$0.60

Rang xay & thương hiệu

$1.00

$1.20

$1.40

Quán

$2.50

$2.00

$1.40


Việt Nam được cái là mạnh về năng suất cao nhất thế giới nhưng lại yếu về branding và chế biến sâu. Thêm trồng loại cà phê không được Tây phương thích lắm. Thấy lãnh đạo Việt Nam đi họp quốc tế khạc không ra một chữ ăng-lê nên đâu có gợi chuyện buôn bán cưới mấy ông thần ngoại quốc. Khi xưa ông Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu dù ít học chưa hết tú tài nhưng vẫn xổ được tiếng Tây và tiếng anh như người Việt nói. Còn lãnh đạo ngày nay chỉ biết mà-ze in Việt Nam. Chán Mớ Đời 


Trong khi đó Ba Tây rất mạnh về tổ chức quy mô và kỹ nghệ hóa, Có cả: Mass market + premium thêm Chiến lược: đa tầng (volume + value)


Còn xứ Colombia thì mạnh về marketing  tầm quốc gia và chất lượng đồng nhất. Trong khi chiến lược của họ là tối ưu hóa và kiểm soát chất lượng thương hiệu quốc gia, không bán cà phê vô danh. Chuẩn hóa chất lượng. Không để hàng kém kéo giá xuốngKể chuyện (storytelling) và nông dân, vùng trồng, độ cao. Hà Nội rất giỏi tuyên truyền nên sử dụng kể chuyện (storytelling) về cà phê Việt Nam. Bớt xịt thuốc trồng hữu cơ nhất là phải trồng theo nhu cầu của thị trường là Arabica vì Robusta chất lượng kém. Chán Mớ Đời 


Mình rất ngạc nhiên khi được biết Việt Nam là cường quốc thứ hai về cà phê nên mừng cho đất nước nhưng khi tìm tài liệu đọc, để xem cán bộ nào có tư duy đột phá ra ý tưởng trồng cà phê thì khám phá Hà Nội may mắn ngư ông đắc lợi vì ông Đức cộng làm hết, bỏ tiền ra xây đập nước để tưới cây cà phê trồng này nọ rồi ông Đức cộng banh ra lông nên Hà Nội thừa hưởng hết những gì Đức cộng đã thực hiện. Được cái là sau 10 năm tình cũ với ngăn sông cấm chợ họ khôn không phá gì cả như kiểu vào Sàigòn là đốt hết. Sau nên chiến thắng cứ nghĩ xã hội chủ nghĩa anh hùng.  


 Vấn đề là Hà Nội chỉ tiếp tục tăng gia sản xuất bán thô thay vì tạo dựng thương hiệu để thế giới biết đến để tìm khách hàng lâu dài. Về Việt Nam mình thấy có công ty trồng cocoa và bán không thua gì ngoại quốc nhưng chưa tạo được thương hiệu của người Việt. Tương tự như trà Việt Nam mình được thân hữu tặng uống rất ngon nhưng quả đài Loan thấy họ làm có bài bản đi các tiệm bán trà sẽ thấy. Hay thương hiệu mật ong Manuka mà nước Tân Tây lan xây dựng thương hiệu của họ và các chống giả hiệu. Ngày nào Việt Nam thực hiện được thương hiệu được ngoại quốc biết và yêu thích thì mới giúp nông dân Việt Nam giàu được. 


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn