Quân đội bị lãng quên

 Quân đội bị bỏ quên


Khi đọc sách báo về cuộc chiến tranh Việt Nam từ người Mỹ hay Hà Nội viết thì tuyệt nhiên không thấy ai nhắc đến công lao và sự hy sinh trên 1 triệu người ở miền Nam. Người Mỹ thì kêu các sĩ quan tham nhũng, bất tài trong khi Hà Nội chỉ kêu bọn nguỵ quân nguỵ quyền, tay sai đế quốc . Nếu con chúng ta đọc thì chúng sẽ bị xấu hổ về cha ông của chúng. 


Khi mình sang Hoa Kỳ thì thấy đại học Hoa Kỳ tổ chức các buổi thảo luận về chiến tranh Việt Nam. Để diễn đàn thêm phần trung dung, họ mời đại diện Hà Nội, đại diện người Mỹ và đại diện cộng đồng người Việt. Vấn đề là cộng đồng người Việt không thống nhất đưa ai đi đại diện. Người muốn đi thì không rành anh ngữ, các sinh viên Việt Nam nói sẽ thông dịch rồi cuối cùng từ chối tham dự, chỉ kéo nhau lại biểu tình rồi ra về hồ hởi vì đã đi biển tình chống cộng trong khi người Mỹ và Hà Nội bên trong nói chuyện đưa ra quan điểm của họ cho thính giả. Nhiều người trong cộng đồng người Việt từng là sĩ quan cấp tá mà không hiểu cuộc chiến tranh tâm lý. Trình bày quan điểm tại sao Việt Nam Cộng Hoà thua và sự tàn ác của Việt Cộng. Cứ kêu bọ Việt Cộng không tin được, gian ác lắm. Ngoài ra mình dám chắc nội tuyến của Hà Nội khắp nơi trong các hội đoàn người Việt. Tìm cách gây lũng đoạn.


Có ông mỹ viết cuốn sách Vietnam’s Forgotten Army: Heroism and Betrayal in the ARVN, nói về quân đội Việt Nam Cộng Hoà bị bỏ quên để dấy lên sự đóng góp của quân lực Việt Nam Cộng Hoà trong cuộc chiến đấu cho tự do. Những cuốn sách này nên khuyến khích con cháu chúng ta đọc để chúng tự hào về Việt Nam Cộng Hoà, thay vì chỉ đọc sách mỹ hay của Hà Nội đều gieo tiếng ác, hạ nhục kẻ thua cuộc.

Cuốn sách của Andrew Wiest góp phần lấp đầy một khoảng trống lớn trong lịch sử Chiến tranh Việt Nam. Trong khi hàng nghìn cuốn sách đã được viết về cuộc chiến từ góc nhìn của người Mỹ và phía cộng sản Việt Nam, thì Quân lực Việt Nam Cộng hòa (ARVN) lại thường bị các sử gia phương Tây xem như đúng theo những gì tuyên truyền cộng sản mô tả một lực lượng “tay sai”, nguỵ quân kém cỏi, với những nỗ lực hầu như không ảnh hưởng đến kết cục của cuộc chiến. Rất ít sự chú ý được dành cho những trải nghiệm, đóng góp và lòng dũng cảm của các binh sĩ ARVN, những người đã chiến đấu suốt nhiều thập kỷ trong điều kiện khắc nghiệt và vì những lý do mà ít người Mỹ thực sự hiểu rõ.


Có nhiều người miền Nam đêm tâm tình viết hồi ký nhưng đường như để đánh bóng cá nhân của họ nhiều hơn. Ít được dịch ra anh ngữ hay pháp ngữ,… khi xưa sống tại Đà Lạt đọc báo và nghe radio thì tin tức chiến sự đều phe ta vô sự, hạ sát mấy chục cộng quân, bắt tù binh này nọ,… chỉ khi ra hải ngoại đọc tin tức hai bên thì mới khám phá ra chiến dịch Lam Sơn 719 là thất bại, chết rất nhiều cả hai bên ở Quảng trị,…


Giáo sư Wiest kể lại câu chuyện đầy kịch tính về hai sĩ quan trẻ của Việt Nam Cộng Hoà, Phạm Văn Đính và Trần Ngọc Huệ, những người có cuộc đời song hành một cách đáng kinh ngạc nhưng lại đưa ra những lựa chọn hoàn toàn khác nhau khi đối mặt với quyết định khắc nghiệt nhất mà một người lính có thể gặp phải. Cả hai đều xuất thân từ những gia đình trung lưu có học thức, đều sinh ra tại cố đô Huế, và đều phục vụ suốt sự nghiệp quân sự của mình trong Sư đoàn 1 ARVN mà theo nhiều chuyên gia quân sự đánh giá là một trong những đơn vị tinh nhuệ nhất của quân đội miền Nam. 


Cả hai ông Đính và Huệ đều có thành tích chiến đấu xuất sắc. Cả hai đóng vai trò quan trọng trong trận tái chiếm thành phố Huế trong cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân năm 1968, nơi họ thể hiện năng lực vượt trội đến mức đều được trao tặng huân chương quân sự của Hoa Kỳ (Ngôi Sao Đồng và Ngôi Sao Bạc) vì lòng dũng cảm và thành tích trong trận chiến kéo dài và đẫm máu này. Giáo sư Wiest chỉ ra rằng vai trò quan trọng của các đơn vị Việt Nam Cộng Hoà trong trận chiến này phần lớn đã bị các sử gia Mỹ bỏ qua. Hình như mất cả tháng mới chiếm lại hoàn toàn Huế.


Sau Tết Mậu Thân, khi cuộc chiến dần kết thúc đối với quân đội Mỹ nhưng lại trở nên ác liệt hơn đối với Việt Nam Cộng Hoà, cả hai người tiếp tục chỉ huy các đơn vị của mình và bất ngờ rơi vào những tình huống tuyệt vọng, nơi lựa chọn duy nhất là đầu hàng và chuyển sang phía đối phương, đối mặt với thất bại không thể tránh khỏi, bị bắt, bị giam cầm, hoặc cái chết. Trần Ngọc Huệ, chiến đấu tại Lào vào đầu năm 1971, đã đưa ra một lựa chọn, trong khi Phạm Văn Đính, với tư cách là một chỉ huy trung đoàn đối mặt với tình thế vô vọng trong cuộc Tổng tấn công mùa Phục Sinh năm 1972, lại chọn một con đường khác. Giáo sư Wiest đã giải thích những yếu tố chính trị và tâm lý ảnh hưởng đến quyết định của mỗi người.


Với tư cách là một bức chân dung về hai cá nhân sống động và quan trọng, cuốn sách này hoạt động rất hiệu quả, và câu chuyện của họ phản ánh hình ảnh của nhiều sĩ quan và binh lính Việt Nam Cộng Hoà dũng cảm đã chiến đấu và hy sinh vì lý tưởng của mình trong Chiến tranh Việt Nam. Tuy nhiên, ở một tầng ý nghĩa khác, Giáo sư Wiest dựa vào quan điểm của hai sĩ quan này để đưa ra một số phê bình chung về chiến lược quân sự của Hoa Kỳ tại Việt Nam.


Xuyên suốt cuốn sách, Giáo sư Wiest lặp lại những chỉ trích của Đính và Huệ rằng vào thập niên 1950 và đầu những năm 1960, quân đội Hoa Kỳ đã “ép buộc” ban lãnh đạo Việt Nam Cộng Hoà và Tổng thống Ngô Đình Diệm xây dựng quân đội Việt Nam Cộng Hoà thành một “quân đội quy ước” thay vì như các tướng lĩnh Việt Nam Cộng Hoà và ông Diệm được cho là mong muốn một lực lượng tập trung vào chống nổi dậy, du kích. Giáo sư Wiest khẳng định đây là một sai lầm chiến lược căn bản.


Thực tế, như bất kỳ ai nghiên cứu về Chiến tranh Việt Nam và các tác phẩm của tướng Bắc Việt Võ Nguyên Giáp đều biết, chiến lược “chiến tranh nhân dân” của phía cộng sản không phải là một cuộc nổi dậy cổ điển. Họ tiến hành chiến tranh bằng một chiến lược kết hợp độc đáo giữa chiến tranh du kích quy mô nhỏ và các chiến dịch quy ước quy mô lớn. Một quân đội Việt Nam Cộng Hoà được tổ chức chủ yếu để chống nổi dậy có lẽ đã bị tiêu diệt trước các đợt tấn công quy mô lớn của lực lượng chính quy cộng sản bắt đầu từ năm 1964; thực tế, ngay cả lực lượng Việt Nam Cộng Hoà “quy ước” do Hoa Kỳ xây dựng trong chương trình Việt Nam hoá mà Wiest chỉ trích cũng tỏ ra quá yếu để chống lại những đòn đánh này. Chính sự yếu kém đó, chứ không phải việc Việt Nam Cộng Hoà không thể đối phó với du kích, đã buộc Hoa Kỳ phải đưa lực lượng bộ binh chiến đấu vào Việt Nam năm 1965. Chúng ta nhớ vụ áp dụng chương trình ấp chiến lược được áp dụng thành công ở Mã Lai nhưng thất bại ở Việt Nam vì văn hoá khác nhau.

Trung tá Đính đầu hàng Việt Cộng để cứu binh sĩ


Cuối cùng, sự nghiệp quân sự của cả Phạm Văn Đính và Trần Ngọc Huệ đều bị hủy hoại khi các đơn vị Việt Nam Cộng Hoà quy mô lớn mà họ chỉ huy bị các đơn vị Bắc Việt áp đảo trong những trận đánh quy mô trung đoàn lớn… có báo Hà Nội nói về vụ trung tá Đính đầu hàng


https://cand.com.vn/Tu-lieu-antg/Ngay-tro-ve-cua-trung-ta-Pham-Van-Dinh-trong-mua-he-do-lua-i303933/


Tại căn cứ Carroll, ông Phạm Văn Đính, chỉ huy tiểu đoàn 56 khi quân đội chính quy của Hà Nội tấn công cuối tháng 3 năm 1972. Theo người ta kể lại thì tiểu đoàn của ông thiếu đạn dược, không được tiếp viện. Và bị tổn hại khá nhiều. Cuối cùng ông ta liên lạc với cộng quân vào 2:30 chiều ngày 2 tháng 4 năm 1972, xin đầu hàng. Sự đầu hàng của ông ta khiến quân đội miền Nam mất thêm nhưng địa cứ khác như Mai Lộc vì tiểu đoàn này có pháo binh hạng nặng.

Trong khi ông Trần Ngọc Huệ thì bị bắt làm tù binh tháng 3 năm 1971 trong thời gian chiến dịch Lam Sơn 719. Ông ta được đưa ra Hà Nội nhốt tại Hoa Lò mà người Mỹ hay gọi Hà Nội Hilton. Ông ta được thả năm 1983 và sang Hoa Kỳ năm 1991 với gia đình. (còn tiếp)


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

1 chọi 150

 Lực lượng đặc biệt khác với biệt động


Nhớ khi xưa, mình thấy một anh hàng xóm đi biệt kích, một hôm thấy anh ta về phép bận độ Việt Cộng đi trước rạp Ngọc Hiệp về nhà. Đeo súng AK, rồi băng đạn tùm lum. Có lần anh ta với một đồng ngủ chạy xe gắn máy từ Đà Lạt về Phan Rang khiến thiên hạ khiếp luôn. Nghe kể là hai người bận đồ dân sự rồi người ngồi sau, cầm K54, nếu bị chận là bắn bỏ chạy. Kinh


Việt Cộng thì có nhóm bộ đội phá hoại, hình như họ gọi là biệt động. Mình không biết khi họ mò vào phía Việt Nam Cộng Hoà có bận đồ quân đội Việt Nam Cộng Hoà hay không. Ai biết cho em xin.


Hôm nay đọc một hồ sơ giải mật của quân lực Hoa Kỳ về những toán biệt kích của họ, được thả vào Hạ Lào để phá hoại. Họ cho biết năm 1968, sau Mậu Thân, một toán 6 người được trực thăng thả vào Hạ Lào. Họ là những quân nhân người Mỹ nhưng lại được trang bị súng ống của Việt Cộng như AK-47,… họ bận đồ bộ đội, không đeo thẻ bài, giấy tờ tuỳ thân và nếu bị giết hay bị bắt làm tù binh thì chính phủ mỹ sẽ chối, không bao giờ biết họ. Kiểu đi chết sống là ráng chịu, đừng có khai báo gì cả.


Những người đàn ông này thuộc về một đơn vị bí mật đến mức chính phủ đã tiêu hủy tất cả các bức ảnh được biết đến vào năm 1972 khi quân đội mỹ khởi đầu sự rút quân khỏi Việt Nam. Một đơn vị có tỷ lệ thương vong vượt quá 100%, nghĩa là nếu ai gia nhập, về mặt thống kê thì gần như chắc chắn sẽ bị thương hoặc thiệt mạng. Họ gọi nó là Nhóm Nghiên cứu và Quan sát (Studies and Observations Group), một cái tên cố ý tẻ nhạt cho đơn vị tác chiến đặc biệt nguy hiểm nhất trong lịch sử quân đội Mỹ.  


Trong tám năm, những biệt kích này thực hiện các nhiệm vụ tại Lào, Campuchia và Bắc Việt Nam — những nơi mà lực lượng Mỹ bị cấm đặt chân tới. Và họ làm tất cả điều đó trong khi mặc quân phục của chính kẻ thù đang săn lùng họ. Nhưng đây là câu hỏi mà không ai từng trả lời: Tại sao những binh sĩ tinh nhuệ nhất của Mỹ lại ăn mặc giống như những người đang cố giết họ?  


Để hiểu MACV-SOG, chúng ta phải hiểu những thất bại đã tạo ra đơn vị này. Trước khi SOG tồn tại, CIA điều hành các chiến dịch bí mật ở Bắc Việt Nam. Từ năm 1953 đến 1963, họ đưa 28 đội đặc vụ vào phía sau chiến tuyến của đối phương. Kết quả thật thảm khốc.  


456 biệt kích miền Nam Việt Nam bị giết hoặc bị bắt. Mình có kể khi đọc Thép Đen, kể lại bởi một cựu điệp viên Đặng CHí Bình, tên thật là Hùng, đã qua đời, được huấn luyện và gửi ra Bắc bị bắt ở tù 18 năm. Sau được thả và vượt biển đến định cư tại Hoa Kỳ tại Dorchester, Massachussetts. Hầu như mọi đội đều bị bắt hoặc bị tiêu diệt.  


Hà Nội đã thâm nhập các chiến dịch đến mức đôi khi họ biến các đặc vụ bị bắt thành điệp viên hai mang, gửi thông tin sai lệch về cho phía Mỹ suốt nhiều năm. Mình có kể vụ điệp viên nhị trùng Ares. Vì vậy, vào tháng 1 năm 1964, Ngũ Giác Đài tiếp quản. Họ thành lập một đơn vị mới dưới Bộ Chỉ huy Hỗ trợ Quân sự tại Việt Nam. Trên giấy tờ, nó được gọi là Nhóm Nghiên cứu và Quan sát (Studies and Observations Group). Cái tên này là một sự đánh lừa có chủ ý. Sẽ không có nghiên cứu, không có quan sát — chỉ có chiến tranh.  


SOG tuyển chọn những người giỏi nhất trong số những người giỏi nhất: Mũ xanh Lục quân, SEAL Hải quân, biệt kích Không quân, tất cả đều là tình nguyện viên. Và mỗi người đều ký một thỏa thuận giữ bí mật 20 năm, thừa nhận rằng nếu bị bắt, Hoa Kỳ sẽ phủ nhận sự tồn tại của họ. Chuỗi chỉ huy của họ bỏ qua toàn bộ cấu trúc quân sự tại Việt Nam. SOG báo cáo trực tiếp cho trợ lý đặc biệt của Ngũ Giác Đài về chống nổi dậy, và từ đó lên thẳng toà Bạch Cung. Chính Tổng thống Johnson đã phê duyệt các nhiệm vụ của họ. Khi một đội trinh sát vượt biên sang Lào, Tổng thống Hoa Kỳ biết điều đó.  


Khi các đội SOG vượt qua biên giới sang Lào hoặc Campuchia, họ không trông giống người Mỹ. Họ gọi đó là “hoạt động vô danh” xóa sạch mọi dấu vết nhận dạng của người Mỹ. Không thẻ bài, không bất kỳ giấy tờ nhận dạng nào. Mọi số sê-ri trên vũ khí đều bị mài đi. Quân phục sọc hổ của họ không có dấu hiệu nhận biết. Một số đội thậm chí mang giày đặc biệt có đế được thiết kế để trông như dấu chân trần. Nhưng yếu tố nổi bật nhất là người đi đầu.  


Trong nhiều đội trinh sát SOG, người đi đầu bản địa mặc đầy đủ quân phục của Quân đội Bắc Việt. Quần áo kaki, nón cối, đôi khi còn có cả phù hiệu NVA. Vậy tại sao lực lượng đặc biệt Mỹ lại để người của mình mặc quân phục địch? Câu trả lời rất đơn giản.  


Một giây.  


Đó là tất cả những gì họ cần. Khi một đội tuần tra của địch phát hiện SOG, họ phải đưa ra quyết định trong tích tắc: Đó là quân mình hay kẻ thù? Nếu người đi đầu mặc trang bị Mỹ, sẽ không có do dự. Bộ đội sẽ nổ súng ngay lập tức. Nhưng nếu anh ta mặc quân phục của họ, mang vũ khí của họ, di chuyển như thể thuộc về nơi đó, kẻ địch sẽ chững lại. Chỉ một khoảnh khắc. Và trong chiến tranh rừng rậm, khoảnh khắc do dự đó là ranh giới giữa sống và chết. Vũ khí cũng kể cùng một câu chuyện. Các đội SOG mang theo AK-47, súng máy RPD của Liên Xô, và tiểu liên K của Thụy Điển. Không phải vì chúng tốt hơn, mà vì âm thanh khác biệt.  


AK-47 có âm thanh rất đặc trưng. Khi nó khai hỏa trong rừng, lính địch tưởng đó là hỏa lực của đồng đội. Khi M-16 của Mỹ nổ súng, họ biết ngay người Mỹ đang ở đâu. Khi SOG mang vũ khí Mỹ, họ chọn CAR-15 với bộ giảm thanh đặc biệt khiến âm thanh gần giống AK. Mục tiêu luôn giống nhau:  


Gây nhầm lẫn, đánh lừa, và giành thêm nửa giây quý giá để phản ứng... Mục tiêu luôn luôn giống nhau. Sự hoang mang, thất vọng, nửa giây quý giá để phản ứng bằng cách đối đầu. Lính biệt kích SOG John Stryker Meyer thường mang theo 22 băng đạn cho khẩu CAR-15 của mình, cộng thêm lựu đạn, bởi vì một khi cuộc đấu súng bắt đầu, nó hiếm khi chỉ chống lại một số ít kẻ thù. Nó thường là chống lại 100 kẻ thù.


Lực lượng SOG hoạt động từ ba căn cứ tiền phương. Trung tâm chỉ huy phía Bắc ở Đà Nẵng, Trung tâm chỉ huy ở Kontum, và Trung tâm chỉ huy phía Nam ở Bản Mê Thuột. Mỗi căn cứ kiểm soát một đoạn biên giới và thực hiện các nhiệm vụ vào các khu vực bị cấm vượt biên. Một đội trinh sát điển hình bao gồm hai đến ba người Mỹ và bốn đến chín binh sĩ bản địa, người thượng. Thường là các bộ lạc người dân tộc thiểu số Montagnard từ Tây Nguyên.


Các đội này được thả xuống bằng trực thăng H-34 của Nam Việt Nam, được gọi là Kingbees, để duy trì tính bí mật. Các nhiệm vụ kéo dài từ ba đến năm ngày. Mục tiêu là thu thập thông tin tình báo tại Đường mòn Hồ Chí Minh, mạng lưới tiếp tế khổng lồ vận chuyển vũ khí, đạn dược và binh lính từ Bắc Việt Nam qua Lào và Campuchia vào miền Nam.


Lực lượng Đặc nhiệm (SOG) đã tạo ra 75% tổng số thông tin tình báo của Mỹ trên con đường này. Chỉ riêng con số đó đã cho thấy tầm quan trọng của họ. Nhưng trinh sát chỉ là một phần của nhiệm vụ. Các đội SOG cũng thực hiện các hoạt động hành động trực tiếp, phục kích, phá hoại, bắt tù binh và một trong những chương trình xảo quyệt nhất của toàn bộ cuộc chiến. Dự án Con Trai Cả liên quan đến đạn dược bị phá hoại. Các đội SOG sẽ gài những viên đạn và đạn cối đã được chỉnh sửa vào kho vũ khí của địch. Khi lính Bắc Việt Nam bắn những viên đạn này, vũ khí sẽ phát nổ trong tay họ. Tác động tâm lý rất tàn khốc. Cái này hơi căn vì phải tìm ra chỗ cất vũ khí của bộ đội. Hình như mình có kể lại chuyện biệt kích Cường, gốc Quảng kể cho ông mỹ hàng xóm và ông này viết lại bằng anh ngữ.


Lính Bắc Việt Nam bắt đầu nghi ngờ nguồn cung cấp đạn dược của chính mình, đôi khi từ chối bắn những vũ khí mà họ tin rằng có thể bị gài bẫy. Những người lính của SOG thật phi thường, ngay cả theo tiêu chuẩn của các lực lượng đặc nhiệm hiện nay. Robert Howard đã được đề cử Huân chương Danh dự ba lần trong vòng 13 tháng. Ba hành động riêng biệt, bất kỳ hành động nào trong số đó cũng đủ để hầu hết binh lính nhận được huân chương cao quý nhất của quốc gia.


Ông bị thương 14 lần trong 54 tháng ở Việt Nam và được tặng 8 Huân chương Trái tim Tím. Rồi còn có Jerry "Mad Dog" Shriver. Quân đội Bắc Việt treo thưởng 10.000 đô la cho ai bắt được ông. Ông sống trong doanh trại với những người lính dân tộc thiểu số Montagnard chứ không phải với người Mỹ. Ngày 24 tháng 4 năm 1969, trong một nhiệm vụ gần Bộ Chỉ huy Trung ương của địch tại Nam Việt Nam, lần cuối cùng người ta nhìn thấy ông là khi ông một mình xông vào rừng cây giữa làn đạn dữ dội của địch. Người ta không bao giờ được nhìn thấy ông ta nữa. 


Những người lính bản địa xứng đáng được ghi nhận ngang bằng. Không hiểu có được trả lương tiền tử hay không. Người Montagnard, một bộ tộc từ vùng cao nguyên Trung Bộ của Việt Nam, đã phục vụ bên cạnh người Mỹ với lòng trung thành phi thường. Các cựu chiến binh SOG mô tả họ như thể có giác quan thứ sáu về nguy hiểm. Họ có thể ngửi thấy mùi phục kích của địch trước khi bất kỳ ai biết được sự hiện diện của nó. Vil Wo đã thực hiện cú nhảy dù Halo chiến đấu đầu tiên trong lịch sử quân sự khi phục vụ trong SOG. Sau chiến tranh Việt Nam, ông gia nhập CIA và dành hàng thập kỷ theo dõi khủng bố.


Ông đã theo dõi Osama bin Laden ở Sudan vào những năm 1990. Sau vụ khủng bố 11/9, ở tuổi 71, ông được điều động đến Afghanistan. Ông qua đời năm 2023 ở tuổi 93, vẫn đang phục vụ đất nước.


Và rồi, có Chiến dịch Tailwind. Mà mình có kể. Vào tháng 9 năm 1970, 16 người Mỹ và khoảng 120 người bản địa được đưa vào sâu 70 km bên trong lãnh thổ Lào. Trong bốn ngày, họ liên tục chiến đấu chống lại lực lượng Bắc Việt áp đảo. Tất cả 16 người Mỹ đều bị thương.


Y tá Gary Rose đã điều trị cho 60 đến 70 người bị thương trong khi chính ông cũng bị thương, bao gồm cả một lỗ thủng ở chân. Chiếc trực thăng chở đội của ông bị bắn rơi, và Rose đã kéo những người lính bất tỉnh ra khỏi đống đổ nát đang bốc cháy. 47 năm sau, vào năm 2017, Rose cuối cùng đã nhận được Huân chương Danh dự. Sự chậm trễ là do nhiệm vụ này được xếp vào loại tuyệt mật.


Trong nhiều thập kỷ, chính phủ không thể thừa nhận những gì những người này đã làm, bởi vì trên thực tế, họ chưa từng có mặt ở đó. Cái giá mà SOG phải trả là vô cùng lớn.


Khoảng 407 người Mỹ đã thiệt mạng khi phục vụ trong SOG. Con số đó chiếm phần lớn số người chết của Lực lượng Mũ xanh trong toàn bộ Chiến tranh Việt Nam. Hơn 50 lính Mũ xanh SOG vẫn còn được liệt kê là mất tích trong chiến đấu. 18 đội trinh sát hoàn toàn biến mất. Họ vượt biên sang Lào hoặc Campuchia, và không bao giờ được nghe tin tức gì nữa. Kẻ thù đã đặc biệt săn lùng họ. Không biết sau này, người Mỹ có tìm ra tung tích của họ hay không.


Quân đội Bắc Việt đã thành lập các đơn vị phản trinh sát chuyên biệt với nhiệm vụ duy nhất là theo dõi và tiêu diệt các đội SOG. Họ gọi những đơn vị này là tiểu đoàn C-75. Một số binh lính Quân đội Nhân dân Việt Nam (NVA) đeo huy chương có dòng chữ "Giết người Mỹ" như một phần thưởng cho việc nhắm mục tiêu vào các đặc nhiệm SOG.


Trong nhiều thập kỷ sau chiến tranh, SOG vẫn được giữ bí mật. Các cựu chiến binh không thể nói về những gì họ đã làm. Nhiều người bị từ chối trợ cấp của Cục Cựu chiến binh (VA) vì hồ sơ phục vụ của họ bị niêm phong. Chính phủ đã cử họ thực hiện những nhiệm vụ bất khả thi tuyên bố rằng những nhiệm vụ đó không tồn tại. Mãi đến ngày 4 tháng 4 năm 2001, 29 năm sau khi SOG bị giải tán, đơn vị này mới nhận được Huân chương Đơn vị Xuất sắc của Tổng thống. Lần đầu tiên, chính phủ chính thức thừa nhận những gì những người đàn ông này đã đạt được.


Ngày nay, di sản của SOG vẫn còn tồn tại. Đại tá Charlie Beckwith, người từng phục vụ trong Dự án Delta của SOG, sau đó đã thành lập Lực lượng Delta. Dick Meadows, người đã thực hiện bốn nhiệm vụ ở Bắc Việt Nam với tư cách là thành viên SOG, đã trở thành một thành viên sáng lập của cộng đồng đặc nhiệm hiện đại của Mỹ. Tỷ lệ tiêu diệt địch được xác nhận của SOG là 158 trên 1. Các chiến dịch của họ đã buộc Hà Nội phải điều động 40.000 quân khỏi tiền tuyến chỉ để bảo vệ các tuyến đường tiếp tế.


Những đội nhỏ từ 6 đến 12 người đã kìm chân toàn bộ các sư đoàn địch. Vậy tại sao những biệt kích nguy hiểm nhất của Việt Nam lại mặc quân phục địch? Bởi vì hoạt động trên lãnh thổ bị cấm, bị áp đảo về số lượng với tỷ lệ 100 chọi 1, mọi lợi thế đều vô cùng quan trọng. Chỉ cần một khoảnh khắc do dự của kẻ thù, một khẩu súng nghe có vẻ thân thiện, một người dẫn đầu trông có vẻ thuộc về nơi đó.


Những người này hoạt động ở giới hạn tuyệt đối của khả năng con người. Họ từ bỏ danh tính của mình, đến những nơi không chính thức tồn tại, và chiến đấu với kẻ thù đông hơn họ rất nhiều. Nhiều người trong số họ đã không bao giờ trở về nhà. Những người không trở về đã kể lại câu chuyện của họ trong hơn 20 năm. Nhưng giờ đây, câu chuyện của họ cuối cùng cũng có thể được kể lại, và nó xứng đáng được ghi nhớ.


Mấy người này được xem là Kinh Kha đi vào chỗ chết, chắc bị giết hết khi đụng trận. Có thể bị bắt nhưng chắc không khai vì nếu có thì Hà Nội đã sử dụng họ để tuyên truyền. Để mình tìm tài liệu của Hà Nội về vụ này . Nếu ai có thì cho em xin. Mình gú gồ nhưng chỉ có đánh Trường Sa gì đó thôi.


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Tại sao ăn Quế và mật ong

 Tại sao ăn Quế và mật ong


Lâu rồi có ông mỹ quen nói với mình ăn mật ong với quế, như uống,… Mình hỏi lý do ông ta kêu là mẹ ông ta đặt như vậy. Dạo đó còn trẻ nên không để ý lắm, nay già mới sực nhớ. Ngâm mật ong với quế, tỏi , ớt, gừng cho mụ vợ uống để có sức tập đàn. Hôm nay tình cờ đọc một bài của ông bác sĩ mỹ về Quế khiến mình thất kinh. Em xin bình dân học vụ lại đây.

 Việt Nam mình có câu ca dao:

Tiếc thay cây quế giữa rừng để cho thằng Mán thằng Mường nó leo khi nói về công chúa Huyền Trân. Hóa ra người Việt khi xưa đã quý quế rồi.

Một hủ như vậy được 4 tháng


Hôm nay đọc một bài của một ông bác sĩ thì thất kinh nhớ lại lời ông mỹ quen khi xưa. Theo ông bác sĩ này thì Quế khi xưa còn đắt hơn vàng. Chiến tranh can qua đa số vì muốn kiểm soát quế như ngày nay dầu hoả.


Vào những năm 1500, các đội binh Bồ Đào Nha xâm chiếm và đốt cháy các làng ở Sri Lanka để kiểm soát Quế. Công ty Dutch East India cấm bán một cây quế ngoài hệ thống của họ, người ta có thể xử tử những ai đánh cắp quế. Lý do là các bác sĩ sử dụng Quế để chữa bệnh dịch mà vào thế kỷ này lan tràn khắp âu châu. Quế là tài sản, châu báu, vua không dám rắc quế trên chén oatmeal của mình mà cắt giữ trong hầm chứa đồ cấm.


Sực đòi hỏi gia tăng, các dân buôn bán khám phá ra một loại tương tự ở đông Nam Á. Không tốn tiền nhiều để trồng, gọi là quế và chở về âu châu hàng tấn.


Không ai hiểu lý do từ khi nền y khoa hiện đại được giảng dạy tài các trường đại học đào tạo y sĩ. Các bí mật này được che cất đến khi các khoa học gia bắt đầu hỏi tại sao các y sĩ xưa sử dụng quế khi huyết đường gia tăng? Những gì họ biết mà chúng ta không biết? Họ bắt đầu nghiên cứu và câu trả lời là trong quế có sự hiện diện: Methyl Hydroxychalcone Polymer. Hợp chất Methyl Hydroxychalcone Polymer (viết tắt là **MHCP**) là một thành phần chiết xuất từ quế, được nghiên cứu rộng rãi về khả năng hỗ trợ kiểm soát lượng đường trong máu.

Ông bác sĩ nói mua loại quế Ceylan đúng hơn là quế Việt Nam hay các vùng đông Nam Á vì chỉ ná ná thôi


MHCP thường được gọi là "insulin mimetic"(chất mô phỏng insulin). Điều này có nghĩa là nó hoạt động tương tự như insulin theo một số cách chính:

 Nó có thể kích hoạt các thụ thể trên tế bào giống như cách insulin làm, giúp "mở khóa" tế bào để hấp thụ glucose từ máu hiệu quả hơn.


 Các nghiên cứu cho thấy MHCP giúp insulin tự nhiên trong cơ thể hoạt động hiệu quả hơn bằng cách tăng cường quá trình truyền tín hiệu bên trong tế bào. Nó giúp kích thích quá trình chuyển hóa glucose dư thừa thành glycogen (dạng năng lượng dự trữ trong gan và cơ bắp). MHCP là một polyphenol hòa tan trong nước được tìm thấy trong quế (đặc biệt là loại *Cinnamomum cassia*). Mặc dù MHCP là thành phần quan trọng, các nghiên cứu gần đây cho thấy các hợp chất khác như “Cinnamtannin B1” cũng góp phần vào tác dụng giống insulin này. Lợi ích của chiết xuất hòa tan trong nước: Vì MHCP hòa tan trong nước, các loại thực phẩm chức năng thường sử dụng *chiết xuất* quế để giữ lại các lợi ích này, đồng thời loại bỏ các hợp chất hòa tan trong chất béo có thể gây hại cho gan nếu dùng liều cao.


Các nghiên cứu (bao gồm cả từ Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ - USDA) đã chỉ ra rằng MHCP có thể làm tăng đáng kể quá trình chuyển hóa glucose trong môi trường phòng thí nghiệm. Tuy nhiên, kết quả trên người có sự khác biệt: Nhiều người nhận thấy lượng đường trong máu lúc đói giảm và độ nhạy insulin được cải thiện khi sử dụng chiết xuất quế chứa các polymer này.


Nó thường được xem là một “thực phẩm hỗ trợ” hơn là một loại thuốc thay thế hoặc phương pháp điều trị dứt điểm. Hiệu quả tùy thuộc vào tình trạng sức khỏe chuyển hóa của mỗi người.


Hoá ra lâu nay mình nghe lời ông mỹ ăn mật ong với quế mà không hiểu lý do nay thì giác ngộ cách mạng. Mình mỗi năm ngâm mật ong nguyên chất từ ông nuôi ong trong vườn mình. Với tỏi, quế, ớt cayenne, lý do làm cho huyết mạch nở ra giúp máu di chuyển dễ dàng hơn. Người ta giải thích là bác sĩ cho uống thuốc để làm loảng máu để dễ di chuyển trong huyết mạch nhưng không giải quyết chất béo đọng lại trong mạch máu. Có ông bác sĩ bên Phi Luật Tân chữa bệnh nghẹt máu bằng cách cho ớt cay vào giúp các huyết mạch nở ra để giúp chất béo di chuyển và giúp thoát ra ngoài.


Thêm gừng và tiêu nhất là Quế. Mỗi sáng uống hai muỗng với nước ấm. Đồng chí gái kêu ấm cổ vì cô nàng cứ khẹt khẹt hoài. Mình nói tập Trạm Trang Công nhưng không chịu. Cứ tập ba cái chi chi trên mạng bú xua la mua.


20 năm nay mới hiểu lý do sự công dụng của Quế. Vì thường mật ong rất ngọt nhưng glycemic chỉ có 45, có nhiều chất tốt nhưng nếu người cao đường thì ngại nên vì vậy mà khi xưa người ta uống với quế. Đi ăn sáng ở tiệm mỹ, oat meal thường thấy họ bỏ quế. Thay vì mật ong nay họ bỏ si-rô đường. Chán Mớ Đời 


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Ted Ngoy, ông hoàng donuts

 Ted Ngoy, ông hoàng donuts 

Khi mình sang Cali lấy vợ và đất lành chim đậu. Mỗi sáng đi làm thì thấy các tiệm bán Donuts, thiên hạ xếp hàng mua bánh donuts và ly cà phê. Donuts một loại bánh khá ngọt được chiên rồi nhúng vào đường hay chocolate thêm rắt đủ thứ trò. Vào các nơi bán đồ xây dựng thì họ cho uống cà phê và ăn DOnuts miễn phí. Mình hay lấy cà phê và donuts cho thợ khiến họ tưởng mình tử tế mua cho họ. Mình thấy đa số các tiệm bán donuts là do người tỵ nạn Cam Bốt làm chủ như người Nam Hàn chuyên về các tiệm giặt áo quần, còn tiệm xăng thì đa số người Ba tư. Như người Việt thì chiếm thị trường tiệm nail đến 90%. 


Có lần mình hỏi một tên quen ở Long Beach thì hắn kêu không dạy nghề cho người Việt. Có người kêu bán một tiệm đổi tiền. Người di dân lậu làm được trả lương bằng ngân phiếu của chủ. Dạo đó họ chưa được phép như ngày nay là có bằng lái xe, mở trường mục ngân hàng nên khi nhận ngân phiếu của chủ, họ phải đem ra máy chỗ đổi tiền bị chặt 2% rồi gửi tiền về cho gia đình thì lại chặt thêm mấy phần trăm nữa. Mình vào chỗ họ cất giấu tiền, rồi kể đi lấy tiền vào cuối tuần để phát cho người di dân lậu mấy trăm ngàn, phải tránh đi đường ra sao và thay đổi người nên sợ quá, khi không bị cướp bắn chết giữa đường nên thà làm nông dân cho chắc ăn. Mỗi cuối tuần, đổi tiền độ $200,000 là lấy 2% rồi chuyển tiền về Mễ là thêm 3% xem như 5% hay $10,000, 1 tháng $40,000 hay $480,000 một năm chưa kể có tiệm bán thịt tùm lum nhưng phải thí mạng cùi. Chán Mớ Đời 

Nom Kong một loại bánh cam của người Cam Bốt tương tự như Donuts của người Mỹ 


Hồi covid, buồn đời mình trả tiền cho Netflix nên xem rất nhiều phim tài liệu về sự thành công và thất bại của người á đông đến Hoa Kỳ. Có một câu chuyện về sự hình thành các tiệm bán Donuts mà 80% là do người Cam Bốt làm chủ.


Ở Campuchia có ông hoàng Sihanouk, ở Cali có ông Ted Ngoy, thường được người Cam Bốt gọi là ông Hoàng Donuts. Ông Ted Ngoy là một nhân vật có cuộc đời rất ly kỳ, được mệnh danh là **"Vua Bánh Cam" (The Donut King)** tại Mỹ. Câu chuyện của ông không chỉ là về kinh doanh mà còn là biểu tượng của sự vươn lên và di sản của cộng đồng người Campuchia tại California. Những người tỵ nạn cộng sản trốn chạy những cuộc diệt chủng của Khờ Me Đỏ, làm lại tất cả từ đầu.


ông Ted Ngoy có một đời mà người Việt mình gọi là Lên Voi Xuống Chó. Ông ta từng là thiếu tá dưới chính quyền Lon Nol nên khi Khờ Me đỏ sắp vào thì ông ta cùng vợ con chuồn, và được Hoa Kỳ bảo lãnh đến Cali. Khi đến định cư tại miền Nam Cali thì họ không có một đồng xu dính túi như đa số dân tỵ nạn, sống sót là may mắn rồi.


Đúng như mình dự đoán, ông ta gốc Quảng Đông, cha mẹ đều người Tàu. Sinh năm 1944 và năm 1967 ông ta lên Nam Vang để học và gặp một cô gái, con của một công chức lớn. Ông ta làm đủ thứ nghề rồi năm 1970, Lon Nol lật đỗ ông hoàng Sihanouk, thì ông ta vào quân đội. Nhờ anh vợ, Sau Sutsakhan, giám đốc cảnh sát Campuchia, sau này có làm tổng thống ngăn ngủi của Campuchia. Ông ta được thăng thiếu tá và gửi đi qua Thái Lan làm tuỳ viên quân sự. Năm 1975 thì ông ta cùng bà vợ và hai đứa con di tản đến trại Pendleton.


Ông ta đi làm 2 job, ban ngày làm chùi nhà dọn rác cho một nhà thờ, tối làm nhân viên trạm xăng vào ban đêm, mùi hương từ một cửa hàng bánh donut gần đó đã khiến ông ta đói bụng. Nó gợi nhớ đến món “nom kong”, một loại bánh bột gạo của Campuchia. Tương tự như bánh cam rắt mè. Buồn đời ông ta hỏi thêm về cách làm bánh này nọ. Và ghi danh đi học, xem như ông ta là người Đông Nam Á đầu tiên được nhận vào chương trình đào tạo quản lý của Winchell’s Donuts. Đến năm 1977, ông tiết kiệm đủ tiền để mua cửa hàng đầu tiên mang tên “Christy’s Doughnuts” tại La Habra. Tiệm này chủ trước bán buôn ế như Bolsa nhưng khi đến tay ông ta thì khách hàng vào như điên. Nụ cười thân thiện và rẻ hơn các tiệm khác của người Mỹ làm chủ.


10 năm sau, ông ta sở hữu đến 32 tiệm donuts mang tên Christie. Được cái là cả gia đình sống trong một cái RV, để tiện chạy lên chạy xuống Bắc Cali để thiết lập thêm tiệm mới. Năm 1985, gia đình ông ta nhập quốc tịch mỹ và mua một căn nhà to đùng trên triệu bạc thời đó ở hồ Mission Viejo. Mình có anh bạn mua căn nhà to đùng ở ngay đây, dạo đó 2.5 triệu nay thì chắc 4 triệu. Có bên tàu ngay trước nhà, buồn đời thì lên tàu chạy lòng vòng hồ. Chỉ có là không được câu cá.


Mình đoán ông này gốc tàu nên muốn tiết kiệm chi phí, ông Ngoy đã hỏi nhà cung cấp về loại hộp rẻ hơn hộp trắng tiêu chuẩn. Nhà cung cấp đề nghị loại bìa màu hồng còn dư với giá rẻ hơn vài xu. Ông Ngoy đồng ý, và từ đó “chiếc hộp màu hồng” (pink Box) đã trở thành biểu tượng toàn cầu cho các cửa hàng bánh donut thủ công của người gốc Miên tại California. Có lần ai đó rủ mình đi nghe mấy ông thần miên nói về mua nhà đất ở Cao Miên nhưng người miên đã từng “cáp duồn” nên mình không dám hó hé. 


Thế là tiền bắt đầu vào như nước. Vợ con làm chết bỏ từ 3-4 giờ sáng. Ông

Ngoy không chỉ làm giàu cho bản thân; ông còn tạo ra con đường sống cho những người đồng hương. Ông đã bảo lãnh hàng trăm và thị thực cho người Campuchia, đào tạo họ tại các cửa hàng của mình và giúp họ thuê lại các địa điểm kinh doanh. Đây là lý do tại sao khoảng 80% các cửa hàng bánh donut độc lập tại Nam California vẫn do người gốc Campuchia làm chủ cho đến ngày nay. Mình nghĩ đây là tinh thần của người Tàu, lập hội bang rồi giúp người trong họ tộc hay bang. Gặp người Việt thì đánh cho tên người Việt khác cho chết bằng cách hạ giá xuống tận đáy.


Ngày nay ở Nam Cali, 80% các tiệm Donuts thuộc sở hữu cua người Cao Miên. Công ty DunKin Donuts chơi không lại vì giá thành đắt hơn trong khi các tiệm của người Cao Miên là do người trong gia đình làm hết nên rẻ. Bỏ công làm lời. Mấy công ty như Krispy Creme còn bị phá sản.


Bạo phát bạo tàn. Không nhớ ông ta mở bao nhiêu tiệm hình như 64 tiệm. Ông ta trở thành ông hoàng Donuts, tiền vô bạc triệu nhất là bán bằng tiền mặt. Mình xem phỏng vấn ông ta, ông ta kể là mất trắng hết, tiền bạc, tiệm donuts vì mê đánh bài. Ông ta tự nhủ làm việc mệt từ ngày qua mỹ đến giờ, sao không lên Lás Vegas thư giãn xem Elvis Presley trình diễn và rốt cuộc ông ta mất hết. Thấy mấy cô bận đồ hở ngực đem rượu đến uống vô tư nên đánh bài tố như Pol Pot giết người.


Ở đỉnh cao thành công vào những năm 1980 và 1990, ông Ngoy sở hữu khối tài sản hàng triệu đô la. Tuy nhiên, chứng nghiện cờ bạc nặng nề đã khiến ông mất trắng gia sản, các cửa hàng và cả cuộc hôn nhân của mình. Sau đó ông bà Ngoy về Cam Bốt để tham dự chính trị nhưng không thành. Được cái là thủ tướng Hun Sen mời ông ta làm cố vấn kinh tế.


Buồn đời bà vợ về lại Cali thì ở Cao Miên, ông ta có bồ nhí. Hết tiền thì bà vợ kêu tôi thức đêm để chiên donuts mà ông đem nướng hết ở sòng bài, rồi chơi em chân dài thì thôi sugar you you go, sugar me me go.


Hiện nay, ông Ted Ngoy đang sống tại Campuchia, làm nghề bắt mai mối bất động sản. Dạo mình đi Campuchia với mẹ mình và đồng chí gái, có anh kia người Việt gốc Miên, kêu mình đầu tư mua đất. Dạo ấy anh ta kể là tài sản có trên 2 triệu, mà hai thằng con không chịu về tiếp nối bước chân của anh ta. Đi vòng xứ này thì thấy người Tàu họ chiếm hết nên chả muốn ăn mắm bò hóc vì sợ bị hóc xương. 


Dù đế chế tài chính không còn, di sản của ông vẫn hiện hữu mỗi khi ai đó mua một hộp bánh donut màu hồng tại các cửa hàng gia đình trên khắp nước Mỹ. Hồi chưa có google map thì khi đến thành phố lạ, thèm cơm Việt Nam thì mình tìm các tiệm Nail để hỏi tiệm ăn Việt Nam, còn thèm mắm bò hóc thì chạy vào các tiệm bán Donuts. Chán Mớ Đời 


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn