Sự hình thành Đế chế “Nail” của người Việt

 Đế chế “Nail” của người Việt tỵ nạn


Mình có kể về các motel tại Hoa Kỳ đa số do người gốc Ấn Độ sở hữu, các tiệm Donuts thì thuộc về người Cao Miên, các tiệm giặt ủi thì người Đại Hàn. Hôm nay đến cộng đồng người Việt tỵ nạn đã xây dựng một đế chế làm móng tay tại Hoa Kỳ. Cho thấy tuỳ theo đặc tính và văn hoá của mỗi cộng đồng di dân đã xây dựng một ngành nghề đặc biệt trong xã hội Hoa Kỳ.

Được biết người Mỹ gốc việt chiếm 1.7% dân số Hoa Kỳ nhưng họ có trên 51% thợ làm nail trên đất Mỹ, 80% người làm nail tại tiểu bang Cali. Chưa đến 2% dân số mà đã thay đổi kỹ nghệ Nail trên 8 tỷ mỹ kim hàng năm.


Đế chế Nail tại Hoa Kỳ khởi đầu từ ngày 30/4/1975. Hoa Kỳ di tản 125,000 người Việt ra khỏi Sàigòn. Đa số đến Hoa Kỳ với anh ngữ giới hạn, không tiền bạc, nhưng vài thập kỷ sau khi rời bỏ quê hương trong bối cảnh vội vả, họ đã xây dựng và thay đổi kỹ nghệ làm nail tại Hoa Kỳ. 50,000 người đó đã được đưa đến trại thủy quân lục chiến Pendleton tại trú. Tại đây, có một bà tài tử người Mỹ tên Tippy Hedrin, đến trại tỵ nạn làm thiện nguyện. Điều bà ta ngạc nhiên là các bà tỵ nạn cứ nhìn chăm chăm vào móng tay của bà. Lý do là ở Việt Nam ít phụ nữ nào sơn móng tay đẹp như móng tay bà này.

Bà tổ ngành nail của người Việt tại Hoa Kỳ 

Bà ta đột phá tư duy, sao không dạy mấy bà người Việt này làm móng tay để kiếm cơm nuôi con cái. Thế là bà ta kêu người làm nail cho bà dạy mấy bà tỵ nạn người Việt. Chỉ 20 phụ nữ người Việt theo học lớp này và từ đó dạy lại 100 người rồi hàng ngàn người Việt theo nghề Nail. Từ tỵ nạn đến chiếm hoàn toàn kỹ nghề làm móng tay với tổng số 8.5 tỷ mỹ kim hàng năm cho người Mỹ tại Hoa Kỳ.


Đây là câu chuyện của những người mẹ, người cha hy sinh đời mình để củng cố đời con. Họ làm việc từ 10 đến 12 tiếng mỗi ngày. Sự giao thoa văn hoá người Việt và người gốc phi châu hay Mễ tây cƠ. Từ 1975 đến đầu 1990, có trên 1 triệu người Việt định cư tại Hoa Kỳ. Họ đến từng đợt, đa số không biết nhiều anh ngữ, không tín dụng cá nhân nhưng lịch sử nhiều khi rất lạ.

Trở lại 20 người Việt đầu tiên học làm nail. Sau đó thì họ đi làm cho chủ người Mỹ rồi họ đột phá tư duy, tại sao làm công cho thiên hạ nên rủ nhau mở tiệm riêng tuy nhỏ nhưng làm nhiều ăn nhiều làm ít ăn ít. Nó như người Việt bỏ công làm lời. Các người Việt đi làm cho tiệm nail rồi khi hiểu cách thức quản lý tiệm thì họ ra riêng, mở tiệm cho mình. Mình nghe kể là thợ làm xong, học đủ nghề thì xù chủ chạy ra mở tiệm riêng rồi kéo khách hàng về tiệm mình. Nên họ kêu nghề nail rất bạc bẽo.


Trước khi có sự hiện diện người Việt tỵ nạn tại Hoa Kỳ, ngành nail chỉ dành riêng cho tầng lớp người giàu có với thời gian nhiều, chả biết làm gì ra ngồi Salon để cho ai đó dũa móng tay hay móng chân. Đối với phụ nữ mỹ bình dân đi vào salon nail là một loại xa xỉ vì quá đắt đố với túi tiền của họ nhưng người Việt đã thay đổi sự việc. Người Việt mở tiệm nail, không có tiền nhiều nên thường mở trong các khu vực bình dân như người da đen hay Mễ tây cơ.


người Việt đã thay đổi khuôn mẫu làm nail tại Hoa Kỳ. Thay vì làm nail cho các người giàu có, họ lấy rẻ khiến dân bình thường, giá hữu nghị có thể tự thưởng cho mình vì mỗi set rẻ. Tương tự người cao miên mở tiệm bán Donuts có cả gia đình chung vào làm thì người Việt cũng có con cái giúp sau khi đi học về. Mình có người thân vượt biển sang Hoa Kỳ đi làm nail, mở tiệm rồi con cái đi học về ra giúp phụ cai quản trong tiệm.


https://www.bbc.com/news/magazine-32544343


Ngoài ra các tiệm của người Mỹ thì đến 5 giờ là đóng cửa, còn tiệm người Việt thì mở đến khi nào hết khách thì về. Họ lấy giá hữu nghị nên có đông khách và mở thêm các chi nhánh. Có người đi xuyên bang thực hiện giấc mơ Hoa Kỳ của họ. Từ từ các tiệm nail do người Việt mở khắp Hoa Kỳ. Đi đâu mà thèm ăn cơm Việt Nam thì chỉ ghé lại tiệm nail để hỏi địa chỉ tiệm ăn Việt Nam. Đa số người Việt tìm thấy cơ hội làm tiền trong các khu vực đông người da đen và người mễ. Mấy sắc dân này ưa thích màu mè,…nên làm móng tay rất nhiều kiểu, vẽ đủ thức, các tài tử hay đội banh này nọ. Cho thấy đế chế Nail của người Việt  không chỉ xây dựng trong cộng đồng người Việt mà toàn nước mỹ với các cộng đồng bạn.


Giá rẻ và sự bành trướng của ngành nail của người Việt vô hình trung tạo ra những mặt trái của ngành nghề. Các thợ đều làm nhiều giờ, vui lòng khách đến vừa lòng khách đi. Khi khách đi ra thì các thợ nail ho, không có thời gian nghỉ ngơi để ăn trưa. Cả ngày 10-12 tiếng hít các chất hoá học như Acetone, cổ tay đau vì sau bao nhiêu năm cứ dũa nail, ngồi mỏi mệt, đau lưng. Thêm tiệm thường không được thoáng không khí lắm. Chúng ta chỉ thấy móng tay đẹp nhưng ít ai để ý đến hậu quả phía sau của những người hy sinh đời mẹ củng cố đời con. Giá rẻ mà tiền thuê tiệm càng ngày càng gia tăng nên khiến họ bị stress, thuế càng cao trong khi khách hàng thì muốn làm nhanh, để có nhiều khách hàng.

20 người việt đầu tiên hoc làm móng tay

Các người làm nail hít Acetone, acrylic, bột, keo suốt bao nhiêu năm sẽ gây hại cho sức khoẻ. Mình có chị bạn có người chị làm nail rồi bệnh quá nghỉ làm. Lâu lâu xe cứu thương đến chở vào nhà thương vì lộn xộn của sức khoẻ. Mình có người thân làm nail rồi về hưu vì bệnh hoạn và qua đời khá sớm. Nói chung vì kém anh ngữ nên khó tìm công việc khác, thêm gia đình ở Việt Nam xin tiền rồi cố gắng nuôi con ăn học trở thành bác sĩ kỹ sư. Mình có quen một chị gốc Đà Lạt, làm nail, nay con gái tốt nghiệp nha sĩ. Đó là sự hy sinh cho con cái được một tương lai khá hơn mình.


Đó là thế hệ đầu tiên của người Việt tỵ nạn nhưng thế hệ thứ 2 sẽ không tiếp nối con đường làm nail vì nay thế hệ này là kỹ sư, bác sĩ. Các tiệm nail này già theo thời cũng nghe chủ nhân. Ngày nay với luật pháp thay đổi nên có thể hệ thống làm nail kiểu người Việt từ 75 đến nay chắc sẽ gặp khó khăn vì con cháu không tiếp tục thêm và có thể đế chế Nail của người Việt sẽ biến mất trong tương lai.


Có điểm lạ là có thể ngành nail tại Hoa Kỳ sẽ đi theo một lối mới. Có nhiều người Việt trẻ sáng lập tiệm nail qua Instagram, mạng xã hội với khách hàng là những người nổi tiếng, có ảnh hưởng trển các mạng xã hội. Như vậy họ có thể lấy giá tiền cao hơn như xưa. Các tiệm nail ngày nay nghe kể sang trọng lắm, giúp khách hàng đến để trải nghiệm chớ không phải lẹ lẹ có bộ móng tay đi ăn tiệc hay hẹn hò với bạn trai.


Có câu chuyện một cô tên Jenny, 27 tuổi mở tiệm nail lợi tức lên $600,000/ năm. Cô ta kể là khi dịch covid 19 không biết làm gì nên tự học làm nail qua mạng rồi muốn thực hành nghề nên làm miễn phí để có followers trên Instagram. Thế hệ đầu tiên học từ cô hay dì còn thế hệ hôm nay thì học qua kỹ thuật số. Khách hàng của cô Jenny không chỉ muốn làm nail mà muốn nghệ thuật, những design chụp hình được để tải lên mạng xã hội. Khách hàng phải hẹn từ mấy tháng. Mình có cô cháu làm lông mày, xâm xiết gì đó. Nghe nói khách hàng Mỹ hẹn tối thiểu 6 tháng. Cô cháu chỉ hẹn giờ giấc chớ không như thế hệ trước làm cả ngày, không có thời gian cho gia đình.


Cô Jenny này không giới hạn ở làm nail mà còn bán các sản phẩm khác. Ngành nail hiện nay có hai cách. Một cách cổ điển là một set độ $20, làm nhiều khách hạng, tích tiểu thành đại và thế hệ mới thì lấy giá cao hơn và có thể làm rất được nhiều tiền.


Nếu nhìn xa hơn, người Việt bớt sang Hoa Kỳ như các thập niên trước. Các chủ tiệm càng ngày càng già mà con cháu sẽ không tiếp nối sự nghiệp. Nhưng ngành nail có thể nói đã giúp cộng động người Việt tỵ nạn nhanh chóng, có công ăn việc làm nhanh chóng, không cần anh ngữ giỏi. Không cần đi học đại học, vẫn kiếm cơm nhanh chóng để nuôi gia đình và Việt Nam. Theo census thì người Việt tỵ nạn có lợi tức cao hơn người Mỹ trắng. Chán Mớ Đời 


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Nổi kinh hoàng của đạn tổ ong

 NỖI KINH HOÀNG của đạn Beehive 


Hồi nhỏ mình nghe mấy người lớn nói có đạn bắn bằng mũi tên, đạn chụp chi đó khiến mình như bò đội nón, cứ tưởng tượng nỏ thần An Dương Vương với mối tình hữu nghị Trọng Thuỷ Mỹ Châu. Vào mấy trang nhà của cựu lính Mỹ tại Việt Nam thì khám phá ra là có thật. Họ gọi là Đạn tổ ong (beehive round).

Họ cho biết trong chiến tranh Việt Nam, quân đội Bắc Việt (NVA) khiếp sợ chúng. Có nhiều người kể là khi xưa nhờ mấy loại đạn này mà sống sót khi bị bộ đội bao vây và súng cà nông chỉa lên trời không ăn thua gì vì địch đã ở ngay hàng rào và đang cắt dây kẽm gai để chui vào. Loại đạn này bắn chụp trên không khiến hàng ngàn phi tiêu bay xuống. Có người kể quan cảnh rùng rợn khi Việt Cộng rút lui, nhiều người bên bộ đội bị phi tiêu cắm vào người như hamburger. Kinh hoàng. 


Mình thấy hình chụp mấy căn cứ của lực lượng đặc biệt mỹ ở gần biên giới như Ben Het, đều có phi đạo và súng cà nông để bắn xa xa khi khám phá ra các đoàn bộ đội di chuyển cách đó mấy dặm sơn khê. Vấn đề là khi cộng quân tấn công căn cứ thì quá gần để bắn đại bác trong khi cộng quân có thể sử dụng súng cối nhỏ để bắn vào căn cứ. Thế là họ đột phá tư duy nghĩ ra cách bắn đạn chụp từ súng đại bác, đã được chỉa lên trời. Nhưng tay đầu đạn bằng đạn tổ ong.

Đầu đạn tổ ong


Họ cho biết là năm 1957, Quân đội Hoa Kỳ ký hợp đồng phát triển vũ khí cho Tập đoàn Whirlpool, một công ty sản xuất máy giặt, ngày nay vẫn còn hiện hữu. Các kỹ sư của công ty máy giặt Whirlpool tại Picatinny Arsenal được giao nhiệm vụ giải quyết một vấn đề mà pháo binh Hoa Kỳ đã gặp phải từ thời Nội chiến, nghĩa là rất xa xưa.


Làm thế nào để chặn đứng một đợt tấn công bộ binh ồ ạt khi chúng đã áp sát trận địa pháo? Câu trả lời của họ là một quả đạn pháo 105 mm chứa 8.000 mũi tên thép ổn định bằng cánh. Mỗi mũi tên có kích thước gần bằng một chiếc đinh, có bốn cánh nhỏ, giúp nó bay mũi nhọn về phía trước như một mũi tên tí hon. Hình như tiếng Việt gọi là phi tiêu. Khi ngòi nổ cơ học theo thời gian của quả đạn kích hoạt, có thể được cài để nổ ngay khi rời nòng, lớp vỏ nhôm vỡ tung và 8.000 mũi flechette phun ra phía trước thành một hình nón phẳng đang mở rộng với tốc độ khoảng 1.500 feet mỗi giây. Độ 400 mét cho mỗi giây. Quá nhanh để trốn. Chỉ một lần giật dây cò đã biến pháo dã chiến thành một khẩu shotgun.


Không phải ẩn dụ mà là shotgun theo nghĩa đen. Không phải bắn 9 viên như đạn 12 gauge, mà là 8.000 mũi thép trong một phát, có thể bao phủ mặt trước rộng 30 mét ở khoảng cách 100 mét. Họ gọi nó là đạn “tổ ong” (beehive).


Và lần đầu tiên nó được sử dụng trong chiến đấu tại một căn cứ hỏa lực tên LZ Bird vào đêm 27 tháng 12 năm 1966, nó đã quét qua ba tiểu đoàn bộ binh Bắc Việt và góp phần gây ra hơn 250 thương vong tử trận phía đối phương. Dễ sợ. Không biết một tiểu đoàn Việt Cộng là bao nhiêu, nghe nói từ 300-500 người. Vậy xem như có 900-1,500 bộ đội ở trận đánh này và có đến 250 bị chết. Kinh


Đó mới chỉ là phần mở đầu. Nhưng khoảnh khắc chứng minh bản chất thật sự của loại vũ khí này, trận đánh khiến pháo thủ hoàn toàn tin tưởng và buộc bộ đội bác Hồ phải thay đổi cách tác chiến trong suốt phần còn lại của cuộc chiến diễn ra ba tháng sau tại một căn cứ hỏa lực tên Suối Tre.

Có ông mỹ tải tấm ảnh này nói là nhờ đầu đạn tổ ong đã cứu đại đội của ông thoát chết

Nhưng trước tiên, cần hiểu vấn đề mà đạn beehive được tạo ra để giải quyết vì nếu không có bối cảnh đó, các con số chỉ khiến chúng ta bá vơ. Đây là thực tế chiến thuật của một căn cứ hỏa lực ở Việt Nam lúc 3 giờ sáng. Một pháo thủ bên trong vòng phòng thủ, bao cát, dây thép gai concertina, mìn Claymore, pháo sáng bẫy. Hình như loại này được gắn cài ở ngoài rào. Việt Cộng chui đến đụng thì pháo nổ sáng lên để mấy người canh gác nhắm vào chỗ đó để bắn.


Khẩu pháo trong trại, căn cứ đang hướng ra ngoài với góc cao để yểm trợ hỏa lực gián tiếp cho các đơn vị bộ binh hoạt động cách đó hàng dặm. Đó là nhiệm vụ bình thường của pháo thủ. Bắn đạn qua các ngọn đồi tới các tọa độ được báo về qua radio bởi đề lô. Rồi vòng phòng thủ bị tấn công, Đặc công của bộ đội đã cắt hàng rào. Đạn cối rơi dồn dập vào vị trí của các pháo thủ. Và giữa khói, ánh pháo hỏa châu và tiếng ồn, lính trong căn cứ có thể thấy hoặc chỉ cảm nhận cho rằng có hàng trăm người đang tiến về phía bạn qua khoảng đất trống. Mình nghe kể là Việt Cộng hay dùng chiến thuật Biển Người của Mao Trạch Đông, thổi kèn in ỏi, la hét “hàng sống chống chết” chi đó khi tấn công vào đồn. Nghe âm thanh này cũng đủ sợ, vái tứ phương.


Biệt động Việt Cộng đã vào trong phạm vi 300 mét. Họ đang áp sát rất nhanh. Khẩu pháo trong căn cứ lúc này gần như vô dụng. Nó đang chĩa lên trời. Đạn nổ mạnh được thiết kế để bay vòng cung qua địa hình và phát nổ khi chạm đất hoặc trên không. Chúng phát tán mảnh văng theo mọi hướng, rất hiệu quả ở khoảng cách xa, nhưng cực kỳ thiếu chính xác ở cự ly gần.


Ở 100 mét, một quả đạn pháo có thể bay quá mục tiêu, nổ phía sau kẻ tấn công, hoặc tệ hơn, rơi trúng chính quân mình. Súng máy đang bắn. Mìn Claymore phát nổ nhưng làn sóng tấn công vẫn tiếp tục tiến lên vì bộ đội NVA hiểu rõ bài toán. 


27 người Mỹ đã thiệt mạng so với 250 bộ đội. Thiếu tướng David Ott, Tư lệnh Pháo binh Dã chiến của Lục quân, sau này viết rằng LZ Bird đã chứng minh đạn “beehive” là một vũ khí cực kỳ quan trọng cho toàn bộ chương trình phòng thủ căn cứ hỏa lực.


Từ đêm đó trở đi, mọi căn cứ hỏa lực mỹ tại Việt Nam đều bố trí sẵn đạn beehive với các khu vực bắn được chỉ định. Loại vũ khí từng chỉ là một khái niệm lý thuyết giờ đã trở thành học thuyết tiêu chuẩn.


Nhưng LZ Bird là hỗn loạn. Đạn beehive được bắn trong tuyệt vọng vào một vị trí đã bị tràn ngập, như biện pháp cuối cùng. Câu hỏi mà chưa ai trả lời lúc đó là: điều gì xảy ra khi sử dụng nó một cách có chủ đích, như một phần của hệ thống phòng thủ được lên kế hoạch, trước khi đối phương chạm đến hàng rào? Ba tháng sau, Quân đội Nhân dân Việt Nam đã đưa ra câu trả lời tại căn cứ hỏa lực Suối Tre, Tỉnh Tây Ninh.


Ngày 21 tháng 3 năm 1967 vào rạng bình minh. Hai tiểu đoàn Việt Cộng thuộc Trung đoàn 272 tấn công căn cứ do Tiểu đoàn 3, Trung đoàn Bộ binh 22, Sư đoàn 25 trấn giữ. Cuộc tấn công đến từ phía đông và đông nam. Bộ binh Việt Cộng đông đảo tiến qua bìa rừng về phía chu vi phòng thủ. Lần này, việc phòng thủ không còn là ứng biến như LZ Bird. Chỉ huy đã lập kế hoạch sẵn các khu vực bắn đạn beehive. Khi làn sóng tấn công tiến vào khu vực giao chiến, ông ra lệnh. Trước tiên, ông yêu cầu các chỉ huy đại đội bộ binh cho binh sĩ vào vị trí ẩn nấp. Sau đó, ông ra lệnh cho các khẩu pháo 105 mm nạp đạn APERS và bắn về phía đông và đông nam. Các khẩu pháo khai hỏa.


40 quả đạn beehive trong một trận đánh, số lượng đạn M546 được sử dụng nhiều nhất trong bất kỳ trận nào tính đến thời điểm đó. 320,000 phi tiêu được bắn ra. Báo cáo sau trận mô tả kết quả trong một câu. Những khoảng trống lớn đã bị xé toạc trong đội hình tấn công, không phải bị thương, không phải bị chế áp mà là những khoảng trống. Toàn bộ các phân đoạn của đội hình xung phong đã biến mất. Cuộc tấn công của Việt Cộng bị phá vỡ. Bộ binh chuyển sang phản công, truy đuổi những bộ đội sống sót trở lại bìa rừng. Khi trận chiến kết thúc, số thi thể được đếm là 299 bộ đội tử trận. 31 người Mỹ thiệt mạng. Tỷ lệ gần 10:1.


Và báo cáo sau trận ghi nhận một điều đã thay đổi vĩnh viễn cách Lục quân nhìn nhận phòng thủ căn cứ hỏa lực. Đạn beehive cực kỳ hiệu quả trong việc chặn đứng bộ binh địch đang xung phong. Đó là một đánh giá tác chiến, được viết bởi những sĩ quan vừa chứng kiến 8.000 mũi thép trong mỗi quả đạn xé nát một cuộc tấn công cấp tiểu đoàn trong 100 mét cuối cùng của hướng giao tranh.


Trước LZ Bird và Suối Tre, học thuyết tấn công chính của bộ đội là bộ binh tập trung lực lượng. Đánh vào chu vi tại một điểm. Áp đảo bằng số lượng của biển người, chấp nhận thương vong tạo khí thế tấn công. Sau năm 1967, học thuyết đó thay đổi. Các nhà phân tích tình báo Mỹ ghi nhận rằng các đơn vị Việt Cộng bắt đầu điều chỉnh chiến thuật tấn công để đối phó với hỏa lực bảo vệ cuối cùng, trong đó có đạn beehive.


Tại Xa Cát tháng 10 năm 1967, các tiểu đoàn bộ đội tấn công bằng cách bò, giữ tư thế nằm để giảm mức độ phơi bày trước quỹ đạo thấp của chùm flechette. Họ áp dụng chiến thuật “bám sát”, bám lại gần binh sĩ mỹ trong khoảng 20–30 mét trước khi khai hỏa, lực lượng phòng thủ không thể bắn beehive mà không gây nguy hiểm cho chính quân mình. Họ chuyển từ các làn sóng biển người đông đảo sang các mũi đột nhập do đặc công dẫn đầu, những nhóm nhỏ chuyên cắt hàng rào và phá hầm thay vì cả đại đội xông qua địa hình trống.


Đến năm 1969, quân đội Mỹ tiếp tục hoàn thiện khái niệm phòng thủ căn cứ. Căn cứ hỏa lực Crook, tháng 6 năm 1969, đại diện cho việc áp dụng hoàn chỉnh học thuyết beehive. Radar giám sát mặt đất và cảm biến địa chấn phát hiện lực lượng bộ đội đang tập trung ở bìa rừng trước khi cuộc tấn công bắt đầu. Pháo binh bắn đạn beehive vào các tọa độ đã được ghi nhận sẵn dựa trên dữ liệu cảm biến, không phải như biện pháp cuối cùng, mà là đòn đánh mở đầu.


Trong hai đêm giao tranh, 76 thi thể NVA được tìm thấy trong một khu vực. Tỷ lệ tiêu diệt tại khu vực đó gần 76:1. Đạn beehive đã tiến hóa từ một biện pháp tuyệt vọng thành một vũ khí được tính toán. Không còn bắn trong hoảng loạn khi đối phương đã vào trong hàng rào, mà được dẫn hướng bằng radar vào các đội hình vẫn còn đang tập họp trong rừng. Loại đạn được thiết kế để chặn một cuộc tấn công đang diễn ra giờ đây ngăn chặn chúng trước khi bắt đầu.


Khi chiến tranh tiếp diễn, nhiều đơn vị pháo binh ngày càng dựa vào thứ họ gọi là “Killer Junior” đạn nổ mạnh tiêu chuẩn với ngòi nổ thời gian cơ học, được cài đặt để phát nổ ở độ cao 10–30 mét, tạo ra vụ nổ trên không phát tán mảnh theo mọi hướng. Killer Junior bền vững hơn về hậu cần. Mỗi đội pháo binh mang theo hàng trăm quả đạn HE, nhưng chỉ có số lượng hạn chế đạn beehive. Họ thay đổi cách bắn, nổ trên không hoạt động 360°, trong khi chùm của beehive chỉ bao phủ khu vực phía trước nòng pháo.


Nhưng Killer Junior không thể làm điều mà beehive làm được tại hàng rào. Nó không thể lấp kín mặt trận 30 mét bằng 8.000 đầu đạn trong một lần bắn. Nó không thể biến 100 mét cuối cùng của hướng tiếp cận thành một bài toán không có lời giải đối với bộ binh đông đảo tiến trên địa hình trống.


Ở những khoảng cách mà phòng thủ căn cứ là vấn đề sống còn, nơi người lính có thể nhìn thấy những người đang cố giết họ. Không có gì trong kho vũ khí Mỹ sánh được với những gì M546 mang lại. Đạn beehive không thắng cuộc chiến Việt Nam. Không có vũ khí đơn lẻ nào làm được điều đó. Nhưng nó đã thay đổi điều kiện của trận chiến tại điểm duy nhất mà Việt Cộng luôn có lợi thế: đòn tấn công cuối cùng.


Trước beehive, chạm đến hàng rào là cái giá thương vong có thể chấp nhận. Sau beehive, chạm đến hàng rào là án tử cho bất kỳ ai còn đứng thẳng. Bộ đội là những người lính chuyên nghiệp, thích nghi với mọi loại vũ khí mới mà Mỹ. Họ cũng thích nghi với beehive bằng cách bò, bằng cách bám sát, bằng cách sử dụng đặc công thay vì cả tiểu đoàn.


Những pháo thủ đã bắn những loạt đạn đó tại LZ Bird, tại Suối Tre, tại Crook, và tại hàng chục căn cứ hỏa lực không bao giờ được ghi vào sách lịch sử, họ kể lại là nhớ âm thanh. Không phải tiếng nổ của khẩu pháo, mà là âm thanh sau đó.


8.000 mũi flechette xé gió ở tốc độ 1.500 feet mỗi giây tạo ra một âm thanh mà các cựu binh mô tả là tiếng rít, hay tiếng vo ve, hoặc thứ gì đó mà họ chưa bao giờ tìm được từ ngữ chính xác.


Có ông mỹ kể như sau về trận đánh ở Suối Tre:


l only know of only one time that a bee hive was used in combat. l meet a guy who came to our unit right before l transferred out. He was on a 155mm howitzer at the battle of Soui Tre. They were being over run when they fired l think one round. l remember him saying he heard it go off and then it was dead quiet. Ai buồn đời thì đọc hai đường dẫn dưới đây để hiểu rõ hơn. Mình thấy giết người quá kinh khủng.


https://en.wikipedia.org/wiki/Beehive_anti-personnel_round


https://grokipedia.com/page/Beehive_anti-personnel_round


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Quân đội bị lãng quên

 Quân đội bị bỏ quên


Khi đọc sách báo về cuộc chiến tranh Việt Nam từ người Mỹ hay Hà Nội viết thì tuyệt nhiên không thấy ai nhắc đến công lao và sự hy sinh trên 1 triệu người ở miền Nam. Lịch sử được viết bởi kẻ thắng cuộc. Người Mỹ thì kêu các sĩ quan Việt Nam Cộng Hoà tham nhũng, bất tài trong khi Hà Nội chỉ kêu bọn nguỵ quân nguỵ quyền, tay sai đế quốc sài lang. Thật ra thì có vài ông tướng tham nhũng như ông Nguyễn Văn Toàn, khi làm tư lệnh quân khu II, đã cho đệ tử trao tiền cho Việt Cộng để người ông ta vào cưa cây đem bán cho ngoại quốc. Mình có kể vụ này rồi khi trinh sát 302 bắt gặp và bắn chết Việt Cộng và thiếu tá đưa tiền Việt Cộng. Nếu con chúng ta đọc thì chúng sẽ bị xấu hổ về cha ông của chúng. Ngày nay thì Hà Nội còn tham nhũng gấp vạn lần.


Khi mình sang Hoa Kỳ thì thấy đại học Hoa Kỳ tổ chức các buổi thảo luận về chiến tranh Việt Nam. Để diễn đàn thêm phần trung dung, họ mời đại diện Hà Nội, đại diện người Mỹ phản chiến và đại diện cộng đồng người Việt tỵ nạn. Vấn đề là cộng đồng người Việt không thống nhất đưa ai đi đại diện. Người muốn đi thì không rành anh ngữ, các sinh viên Việt Nam nói sẽ thông dịch rồi cuối cùng họ từ chối tham dự, chỉ kéo nhau lại biểu tình rồi ra về hồ hởi vì đã đi biểu tình chống cộng trong khi người Mỹ phản chiến và Hà Nội bên trong nói chuyện đưa ra quan điểm của họ cho thính giả. Nhiều người trong cộng đồng người Việt từng là sĩ quan cấp tá mà không hiểu cuộc chiến tranh tâm lý. Trình bày quan điểm tại sao Việt Nam Cộng Hoà thua và sự tàn ác của Việt Cộng. Cứ kêu bọn Việt Cộng không tin được, gian ác lắm. Ngoài ra mình dám chắc nội tuyến của Hà Nội khắp nơi trong các hội đoàn người Việt. Tìm cách gây lũng đoạn.


Dạo ấy mình hay ghé nhà ông Al Santoli, cựu chiến binh mỹ, có qua trại tỵ nạn giúp người Việt tỵ nạn và lấy vợ ở trại đem về mỹ. Chỉ có ông ta đơn độc nói về chiến tranh Việt Nam. Nên nhớ sau vụ Mỹ Lai, các cựu chiến binh mỹ về lại Hoa Kỳ hay bị người Mỹ lên án là những kẻ giết đàn bà con nít. Nên ít cựu chiến binh xuất hiện, nay thì khác nhưng họ đều lớn tuổi.


Có ông mỹ viết cuốn sách Vietnam’s Forgotten Army: Heroism and Betrayal in the ARVN, nói về quân đội Việt Nam Cộng Hoà bị bỏ quên để dấy lên sự đóng góp của quân lực Việt Nam Cộng Hoà trong cuộc chiến đấu cho tự do. Những cuốn sách này nên khuyến khích con cháu chúng ta đọc để chúng tự hào về Việt Nam Cộng Hoà, thay vì chỉ đọc sách mỹ hay của Hà Nội đều gieo tiếng ác, hạ nhục kẻ thua cuộc.

Cuốn sách của Andrew Wiest góp phần lấp đầy một khoảng trống lớn trong lịch sử Chiến tranh Việt Nam. Trong khi hàng nghìn cuốn sách đã được viết về cuộc chiến từ góc nhìn của người Mỹ và phía cộng sản Việt Nam, thì Quân lực Việt Nam Cộng hòa (ARVN) lại thường bị các sử gia phương Tây xem như đúng theo những gì tuyên truyền cộng sản mô tả một lực lượng “tay sai”, nguỵ quân kém cỏi, với những nỗ lực hầu như không ảnh hưởng đến kết cục của cuộc chiến. Rất ít sự chú ý được dành cho những trải nghiệm, đóng góp và lòng dũng cảm của các binh sĩ ARVN, những người đã chiến đấu suốt nhiều thập kỷ trong điều kiện khắc nghiệt và vì những lý do mà ít người Mỹ thực sự hiểu rõ.


Có nhiều người miền Nam đem tâm tình viết hồi ký nhưng đường như để đánh bóng cá nhân của họ nhiều hơn. Ít được dịch ra anh ngữ hay pháp ngữ,… khi xưa sống tại Đà Lạt đọc báo và nghe radio thì tin tức chiến sự đều phe ta vô sự, hạ sát mấy chục cộng quân, bắt tù binh này nọ,… chỉ khi ra hải ngoại đọc tin tức hai bên thì mới khám phá ra chiến dịch Lam Sơn 719 là thất bại, chết rất nhiều cả hai bên ở Quảng trị,…


Nhớ dạo ấy, đài Sàigòn nói nhiều về đại tá Nguyễn Đình Bảo hy sinh tại Hạ Lào, sau này đọc hồi ký của nhạc sĩ Tô Hải thì ông ta kể Hà Nội bắt sống ông đại tá này và cho rêu rao trên đài phát thanh Hà Nội. Nhạc sĩ Tô Hải có viết cuốn hồi ký thằng Hèn, nói chung ông ta bị Hà Nội đì mệt thở.


Giáo sư Wiest kể lại câu chuyện đầy kịch tính về hai sĩ quan trẻ của Việt Nam Cộng Hoà, Phạm Văn Đính và Trần Ngọc Huệ, những người có cuộc đời song hành một cách đáng kinh ngạc nhưng cuối cùng cuộc chiến lại đưa ra những lựa chọn hoàn toàn khác nhau khi đối mặt với quyết định khắc nghiệt nhất mà một người lính có thể gặp phải. Cả hai đều xuất thân từ những gia đình trung lưu có học thức, đều sinh ra tại cố đô Huế, và đều phục vụ suốt sự nghiệp quân sự của mình trong Sư đoàn 1 bộ binh Việt Nam Cộng Hoà mà theo nhiều chuyên gia quân sự đánh giá là một trong những đơn vị tinh nhuệ nhất của quân đội miền Nam. 


Cả hai ông Đính và Huệ đều có thành tích chiến đấu xuất sắc. Cả hai đóng vai trò quan trọng trong trận tái chiếm thành phố Huế trong cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân năm 1968, nơi họ thể hiện năng lực vượt trội đến mức đều được trao tặng huân chương quân sự của Hoa Kỳ (Ngôi Sao Đồng và Ngôi Sao Bạc) vì lòng dũng cảm và thành tích trong trận chiến kéo dài và đẫm máu này. Giáo sư Wiest chỉ ra rằng vai trò quan trọng của các đơn vị Việt Nam Cộng Hoà trong trận chiến này phần lớn đã bị các sử gia Mỹ bỏ qua. Hình như mất cả tháng mới chiếm lại hoàn toàn Huế.


Sau Tết Mậu Thân, khi cuộc chiến dần kết thúc đối với quân đội Mỹ nhưng lại trở nên ác liệt hơn đối với Việt Nam Cộng Hoà, cả hai người tiếp tục chỉ huy các đơn vị của mình và bất ngờ rơi vào những tình huống tuyệt vọng, nơi lựa chọn duy nhất là đầu hàng và chuyển sang phía đối phương, đối mặt với thất bại không thể tránh khỏi, bị bắt, bị giam cầm, hoặc cái chết. Trần Ngọc Huệ, chiến đấu tại Lào vào đầu năm 1971, đã đưa ra một lựa chọn, trong khi Phạm Văn Đính, với tư cách là một chỉ huy trung đoàn đối mặt với tình thế vô vọng trong cuộc Tổng tấn công mùa Phục Sinh năm 1972, lại chọn một con đường khác. Giáo sư Wiest đã giải thích những yếu tố chính trị và tâm lý ảnh hưởng đến quyết định của mỗi người.


Với tư cách là một bức chân dung về hai cá nhân sống động và quan trọng, cuốn sách này đưa ra tình huống, và câu chuyện của họ phản ánh hình ảnh của nhiều sĩ quan và binh lính Việt Nam Cộng Hoà dũng cảm đã chiến đấu và hy sinh vì lý tưởng của mình trong Chiến tranh Việt Nam. Tuy nhiên, ở một tầng ý nghĩa khác, Giáo sư Wiest dựa vào quan điểm của hai sĩ quan này để đưa ra một số phê bình chung về chiến lược quân sự của Hoa Kỳ tại Việt Nam.


Xuyên suốt cuốn sách, Giáo sư Wiest lặp lại những chỉ trích của Đính và Huệ rằng vào thập niên 1950 và đầu những năm 1960, quân đội Hoa Kỳ đã “ép buộc” ban lãnh đạo Việt Nam Cộng Hoà và Tổng thống Ngô Đình Diệm xây dựng quân đội Việt Nam Cộng Hoà thành một “quân đội quy ước” thay vì như các tướng lĩnh Việt Nam Cộng Hoà và ông Diệm được cho là mong muốn một lực lượng tập trung vào chống nổi dậy, du kích chiến. Giáo sư Wiest khẳng định đây là một sai lầm chiến lược căn bản.


Thực tế, như bất kỳ ai nghiên cứu về Chiến tranh Việt Nam và các tác phẩm của tướng Bắc Việt Võ Nguyên Giáp đều biết, chiến lược “chiến tranh nhân dân” của phía cộng sản không phải là một cuộc nổi dậy cổ điển. Họ tiến hành chiến tranh bằng một chiến lược kết hợp độc đáo giữa chiến tranh du kích quy mô nhỏ và các chiến dịch quy ước quy mô lớn. Một quân đội Việt Nam Cộng Hoà được tổ chức chủ yếu để chống nổi dậy có lẽ đã bị tiêu diệt trước các đợt tấn công quy mô lớn của lực lượng chính quy cộng sản bắt đầu từ năm 1964; thực tế, ngay cả lực lượng Việt Nam Cộng Hoà “quy ước” do Hoa Kỳ xây dựng trong chương trình Việt Nam hoá mà Wiest chỉ trích cũng tỏ ra quá yếu để chống lại những đòn đánh này. Chính sự yếu kém đó, chứ không phải việc Việt Nam Cộng Hoà không thể đối phó với du kích, đã buộc Hoa Kỳ phải đưa lực lượng bộ binh chiến đấu vào Việt Nam năm 1965. Chúng ta nhớ vụ áp dụng chương trình ấp chiến lược được áp dụng thành công ở Mã Lai nhưng thất bại ở Việt Nam vì văn hoá khác nhau.

Trung tá Đính đầu hàng Việt Cộng để cứu binh sĩ vì hết đạn, không được tiếp tế.

Cuối cùng, sự nghiệp quân sự của cả Phạm Văn Đính và Trần Ngọc Huệ đều bị hủy hoại khi các đơn vị Việt Nam Cộng Hoà quy mô lớn mà họ chỉ huy bị các đơn vị Bắc Việt áp đảo trong những trận đánh quy mô trung đoàn lớn… có báo Hà Nội nói về vụ trung tá Đính đầu hàng như sau:


https://cand.com.vn/Tu-lieu-antg/Ngay-tro-ve-cua-trung-ta-Pham-Van-Dinh-trong-mua-he-do-lua-i303933/


Tại căn cứ Carroll, ông Phạm Văn Đính, chỉ huy tiểu đoàn 56 khi quân đội chính quy của Hà Nội tấn công cuối tháng 3 năm 1972. Theo người ta kể lại thì tiểu đoàn của ông thiếu đạn dược, không được tiếp viện. Và bị tổn hại khá nhiều. Cuối cùng ông ta liên lạc với cộng quân vào 2:30 chiều ngày 2 tháng 4 năm 1972, xin đầu hàng. Sự đầu hàng của ông ta khiến quân đội miền Nam mất thêm nhưng địa cứ khác như Mai Lộc vì tiểu đoàn này có pháo binh hạng nặng. Và đưa đến mất Quảng Trị và Hải Lăng. Hình như sau vụ này hai tướng Vũ Văn Giai và Hoàng Xuân Lãm bị cách chức, ông Vũ Văn Giai bị lên án 5 năm tù, sau 75 đi tù Việt Cộng. Còn ông Hoàng Xuân Lãm thì ngồi chơi xơi nước đến 75.

Trong khi ông Trần Ngọc Huệ thì bị bắt làm tù binh tháng 3 năm 1971 trong thời gian chiến dịch Lam Sơn 719. Ông ta được đưa ra Hà Nội nhốt tại Hoa Lò mà người Mỹ hay gọi Hà Nội Hilton. Ông ta được thả năm 1983 và sang Hoa Kỳ năm 1991 với gia đình. (còn tiếp)


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn