Say men chiến thắng đưa đến chiến bại

 Chiến thắng đưa đến chiến bại


Hồi xưa, thầy dạy kể về các trận đánh chống pháp này nọ, có nghe đến trận Na-San và tướng Raul Salan mà mấy ông tây đi lính khi xưa khen ông tướng này. Sau này ông ta chống lại việc tổng thống Để Gaulle nên tính làm đảo chính nhưng chỉ có một số binh sĩ theo ông ta nên sau này bị tổng thống De Gaulle bắt bỏ tù. Hồi ở Paris, mình có gặp ong tướng này mấy lần ở hội cựu chiến binh Đông-Dương mỗi lần ông ta lên Paris thăm gia đình, và ông tướng Bigeard, người đầu hàng Việt mInh tại Điện Biên Phủ cũng như bác sĩ Paul Grovin, người đã trải qua bao nhiêu trận pháo của việt minh tại lò chảo Điện Biên này. Ông này có viết cuốn sách “ j’étais médecin à Điện Biên Phủ”. Mình có đọc cuốn này khi ở Pháp. Có dịp mình kể về ông bác sĩ này.

Căn cứ Na-San là nơi đụng độ mạnh nhất giữa Việt minh và quân đội Pháp. Các vùng miền cao như Cao Bằng, Lạng Sơn đều được việt mình chiếm đóng các khu vực này. Lý do là gần biên giới Trung Cộng. Dễ nhận tiếp tế.


Có lần về quê, ngủ lại nhà lần đầu tiên, thì sáng sớm nghe cái loa phường tuyên dương các người dân làng mình đã hy sinh trong trận đánh Điện Biên Phủ. Cái loa đọc tên rồi kêu đã chết rất lâu khiến mình rùng mình. Nếu ông cụ mình theo việt mInh ở làng chắc cũng đã nằm xuống ở Điện Biên Phủ. Ông cụ lại không theo nên việt minh tìm cách giết vào ban đêm. May sao ông cụ đã chuẩn bị nên nhảy qua tường nhà hàng xóm rồi trốn ra Hà Nội rồi đăng lính vào nam.


Mình có đọc đâu đó, ông tướng Võ Nguyên Giáp có kể là khi Trung Cộng đồng ý giúp đỡ vũ trang và cán bộ thì Việt mInh mới khởi đầu đánh pháp. Cậu ruột của đồng chí gái đi theo việt minh và làm sĩ quan tuỳ viên cho võ đại tướng. Sau này lên hàm tướng.

Không ảnh của Na-San, thấy phi trường 


Hôm nay tình cờ đọc một bài của ông tây nào kể về trận đánh Na-San, khiến quân đội pháo ỷ y nên chơi lớn hơn ở Điện Biên Phủ cùng chiến thuật nhưng rồi sau khi thất bại tại Na-San, Việt mInh học được bài học đau đớn nên đã tương kế tựa kế, bao vây Điện Biên Phủ và người Pháp không ngờ kỳ này quân đội Việt Minh có thể kéo đại bác lên trên đỉnh núi và trực chỉ bắn xuống các nơi phòng ngự của lính pháp. Cuối cùng không được tiếp tế nên đầu hàng. Ông tướng Bigeard có nói với mình tướng Phú của Việt Nam Cộng Hoà cũng có mặt tại trận này và bị bắt làm tù binh. Hình như dạo đó tướng Phạm Văn Phú là trung uý trong quân đội viễn chinh pháp.


Pháp có 2 trận đánh nổi tiếng ở Việt Nam là Na-San và Điện Biên Phủ trong khi quân đội mỹ có trận Khe sanh, cũng do tướng Giáp tấn công. Chỉ có Điện Biên PHủ là thắng còn hai trận kia thì phải rút lui vì tổn thất quá nhiều. Mình đọc đâu đó ông Giáp có kể vụ bộ chính trị ra lệnh ông ta phải chiếm loại Quảng Trị cho bằng được khiến mỗi đêm 100 bộ đội chèo ghe sang sống đều bị bắn chết hết.


 Vào tháng 12 năm 1946, tại Đông Dương thuộc Pháp lúc bấy giờ, Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất đã bùng nổ giữa Pháp và Việt Minh. Một phong trào độc lập cánh tả của Việt Nam do Hồ Chí Minh lãnh đạo và Tướng Võ Nguyên Giáp chỉ huy quân sự.

Phi đạo của Na-San
Họ đào hầm phòng ngự, hình như đa số  người đào là gốc việt hay Thái

Nhận thấy không thể thắng được bằng sức mạnh ở những cánh đồng lúa phẳng, ông Võ Nguyên Giáp, chả bao giờ đi lính cả nhưng lại cầm quân kháng chiến chống pháp. Mình nghe ông Vũ Quốc Thúc, học chung với ông Giáp. Ông Giáp mê lịch sử nhất là các trận đánh của Napoleon, ông ta kể rõ từng chi tiết. Sau này ông ta không được đi pháp học thêm như ông Vũ Quốc Thúc vì ông thầy giáo tây ghét cái tính của ông Giáp không chịu luồng cúi người Pháp nên đánh rớt. Chứ nếu tây cho ông Hồ và ông Giáp đi du học thì ngày nay có thể Việt Nam vẫn là thuộc địa cảu pháp cũng có thể không phải cộng sản. Hay chả có chiến tranh chết chóc 3 miền.


Bộ chỉ huy Việt Minh mới quyết định năm 1952 chuyển hướng nỗ lực của Việt Minh sang vùng núi phía Bắc (Tonkin, nay là miền Bắc Việt Nam). Ở đó, ông tin chắc sẽ tận dụng được sự linh hoạt của quân đội và sự quen thuộc với rừng núi, cũng như hậu cần trở nên linh hoạt hơn nhờ sự hỗ trợ ngày càng gia tăng từ Trung Quốc cộng sản láng giềng.


Do đó, đầu tháng 10 năm 1952, ba sư đoàn bộ binh Việt Minh đã vượt sông Hồng và mở cuộc tấn công vào tỉnh Thái ( tây gọi Tai) ở tây bắc Tonkin, nơi sinh sống của các dân tộc Thái thân Pháp. Hình như thực dân pháp để cho các dân tộc này tự trị nên họ ủng hộ và giúp đỡ người Pháp. Mục tiêu của Việt Minh là đẩy lui quân Pháp và thiết lập đường nối trực tiếp với Lào, sau đó xâm lược phần này của Đông Dương thuộc Pháp và mở thêm một mặt trận mới.


Chỉ trong vòng chưa đầy hai tuần, các sư đoàn Việt Minh đã tiến được khoảng 60 km và tiến đến sông Đen, Hắc Giang (Black River) ở phần trung tâm tỉnh Thái. Sự tiến quân này buộc các lực lượng Pháp-Việt phải rút khỏi các cứ điểm chính tại Nghĩa Lộ và Sơn La, cũng như các tiền đồn nhỏ lân cận. Không lâu sau, các cứ điểm Điện Biên Phủ và Lai Châu nằm phía bên kia sông Hắc giang  cũng phải di tản.

Tướng Raoul Salan, sau này bị tổng thống De Gaulle ra lệnh bắt bỏ tù vì muốn giữ Algeria cho đế quốc Pháp. Mình có ăn cơm với ông ta mấy lần tại hội cựu chiến binh Đông-Dương 

Đáp lại, Tướng Raoul Salan, khi đó là Tổng Tư lệnh lực lượng Pháp tại Đông Dương, quyết định chặn bước tiến của Việt Minh sang Lào bằng cách xây dựng một căn cứ kiên cố tại Na San, một thung lũng nằm bên kia sông hắc giang. Na San có một sân bay quan trọng, là điểm đến của viện binh và tiếp tế cho tỉnh Thái.


Thung lũng Na San dài khoảng 5 km, rộng 2,5 km, được bao quanh bởi hai dãy đồi. Nó nằm trên đường tỉnh lộ 41 (RP 41) tuyến giao thông chính của tỉnh Thái. Một sân bay quân sự đã được xây dựng trong thung lũng, được một tiền đồn nhỏ canh giữ nhằm tăng khả năng tiếp tế cho khu vực. Nhờ điều kiện tự nhiên thuận lợi, Tướng Salan chọn Na San làm nơi tập trung quân, bao gồm cả các đơn vị đang rút lui. Ông hy vọng sẽ thu hút các sư đoàn Việt Minh đang tiến tới tấn công cứ điểm trên đường sang Lào, đồng thời chặn đứng và tiêu hao chúng bằng cách biến thung lũng thành một pháo đài bất khả xâm phạm.


Vì vậy, ngày 16 tháng 10, Tiểu đoàn 3, Trung đoàn Bộ binh Lê dương 3 (3e REI) dưới quyền Thiếu tá Favreau đã đổ bộ xuống Na San và bắt đầu công việc củng cố. Ngày 26 tháng 10, Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 5e REI (vẫn dưới quyền Thiếu tá Dufour, sau chuyển sang Đại úy Reppelin từ giữa tháng 11) cũng được chuyển đến thung lũng. Các đại đội của họ chiếm giữ nhiều ngọn đồi bao quanh thung lũng và ngay lập tức biến chúng thành các vị trí phòng thủ.


Trong quá trình xây dựng quy mô lớn, hai tiểu đoàn được hỗ trợ bởi các đơn vị công binh Pháp và lính công binh Lê dương từ Tiểu đoàn Công binh hỗn hợp 73 (73e BG). Trong nhiều tuần, máy bay liên tục chở đến lương thực, vật liệu xây dựng, đạn dược, gạo, dây thép gai, pháo, và thậm chí cả máy ủi. Bên cạnh vận tải bằng máy bay dân sự, không quân còn cung cấp giám sát từ xa và gần để theo dõi kẻ thù.

Tiểu đoàn nhảy dù Lê Dương 


Ngày 19 tháng 11, Tiểu đoàn Nhảy dù Lê dương 2 (2e BEP) của Thiếu tá Bloch đến Na San, tiếp theo ngày hôm sau là Tiểu đoàn 1er BEP của Thiếu tá Brothier. Cả hai đơn vị ngay lập tức được đưa đến cách thung lũng khoảng 20 km về phía đông nam để đón các đơn vị đồng minh đang rút lui tại Chiên Đông và Cò Nòi, rồi hộ tống họ về Na San. Trong chiến dịch hai ngày này, đã xảy ra những cuộc đụng độ đầu tiên với Sư đoàn 316 Việt Minh đang tiến tới.


Lúc này, căn cứ Na San gồm hai tuyến phòng thủ. Tuyến ngoài được xây trên các ngọn đồi bao quanh thung lũng, cách sân bay bán kính lên đến 2 km, gồm bảy cứ điểm lớn (points d’appui, đánh số từ 21 đến 27). Sáu cứ điểm trong số đó gồm thêm nhiều vị trí phòng thủ kiên cố, mỗi vị trí do một đại đội canh giữ. Tuyến trong nằm ngay đáy thung lũng, gồm mười cứ điểm kiên cố (số 1 đến 10) cùng các vị trí phòng thủ bổ sung, bảo vệ Bộ chỉ huy, sân bay, pháo binh và kho tàng.


Cách tổ chức này cho phép chỉ huy sử dụng chiến thuật “phòng thủ nhím” (hedgehog defense) chống lại các cuộc tấn công của quân địch đông hơn về số lượng. Căn cứ kiên cố được bảo vệ bởi 11 tiểu đoàn, bao gồm hai tiểu đoàn bộ binh Lê dương, ba tiểu đoàn nhảy dù (hai BEP và Tiểu đoàn Nhảy dù Thuộc địa 3 – 3e BPC), một tiểu đoàn bộ binh nhẹ Maroc, một tiểu đoàn bộ binh nhẹ Algeria, ba tiểu đoàn phụ lực Thái, và một tiểu đoàn phụ lực Việt Nam.


Ban đầu, các lực lượng này chỉ được hỗ trợ bởi một đại đội súng cối Lê dương (CMLE) được thành lập đặc biệt cho sứ mệnh này. Đơn vị đóng tại tiền đồn nhỏ ban đầu của Na San, trang bị súng cối 120 mm và 81 mm. Đến cuối tháng 11, ba khẩu đội pháo 105 mm đã tăng cường cho căn cứ. Ngoài lực lượng mặt đất, căn cứ Na San còn được bảo vệ bởi nhiều máy bay chiến đấu, bao gồm Privateer, SB2C Helldiver, F6F Hellcat và Douglas A-26 Invader, luôn sẵn sàng xuất kích từ Hà Nội cách đó 45 phút.


Chỉ huy toàn bộ căn cứ là Đại tá Jean Gilles, sau này trở thành Tổng Tư lệnh các đơn vị nhảy dù Pháp tại Đông Dương. Ngày 22 tháng 11, Việt Minh dưới quyền Tướng Giáp tiến đến Na San và bao vây nó: Sư đoàn 308 từ phía bắc, Sư đoàn 312 từ phía đông, Sư đoàn 316 từ tây nam. Mỗi sư đoàn gồm ba trung đoàn, mỗi trung đoàn có 2-3 tiểu đoàn. Nghĩa là quân Pháp tại Na San phải đối mặt ít nhất 18 tiểu đoàn Việt Minh, được hỗ trợ bởi pháo binh.


Tối ngày 23 tháng 11, Việt Minh mở cuộc tấn công đầu tiên vào Na San bằng mưu kế. Ở phía bắc căn cứ, trên tuyến phòng thủ trong, có Cứ điểm 8 (PA 8). Nơi đây do Đại đội 11, Trung đoàn 5e REI dưới quyền Đại úy Letestu trấn giữ (ông là nhà vô địch bắn súng nhỏ của quân đội Pháp và sau này trở thành lãnh đạo Quân đoàn Lê dương). Cứ điểm gồm nhiều hầm ngầm kiên cố, nối với nhau bằng hệ thống hào và hố cá nhân dày đặc, được bao quanh bởi dây thép gai và bãi mìn.


Khoảng 20 giờ, lính gác tại một cổng vào cứ điểm báo động cho toàn PA 8. Một đơn vị phụ lực Thái rút lui đã đến cứ điểm, thông báo Việt Minh đang tới và xin lánh nạn. Nhưng có lẽ vì vội vã, họ quên đi tuyến đường quy định và lao thẳng vào lưới thép gai và bãi mìn. Trung úy Durand, chỉ huy một trung đội Đại đội 11, người đã sống sót kỳ diệu qua vụ thảm sát nhóm Kháng chiến của ông bởi quân Đức trong Thế chiến II, bước ra ngoài cổng để dẫn dắt đoàn quân nhỏ đang rút lui.


Sĩ quan chỉ huy đơn vị Thái nói được tiếng Pháp. Trung úy tiếp cận và bắt đầu trò chuyện. Nhưng ông lập tức nhận ra sai lầm: đây không phải phụ lực địa phương. Ông đang đối mặt với Việt Minh! Trung úy Durand, bất ngờ trước kẻ thù và bị ra lệnh im lặng, quay về phía lính trong cứ điểm và hét lớn: “Cẩn thận, chúng là Việt Minh, bắn!” Đồng thời ông bị bắn nhiều phát và trở thành nạn nhân đầu tiên của trận Na San.


Mưu kế này khởi đầu cuộc tấn công của các đơn vị Trung đoàn 88, Sư đoàn 308 (hoặc 312 theo một số nguồn). Quân Việt Minh giả dạng Thái đã xâm nhập qua cổng mở vào hệ thống hào. Tuy nhiên, họ gặp phải sự kháng cự quyết liệt. Đại úy Letestu và binh lính chiến đấu sáp lá cà. Đại đội CMLE nhanh chóng can thiệp và bắn đạn cối vào lực lượng Việt Minh tiến công từ ba hướng. Cuộc tấn công đầu tiên nhanh chóng bị chặn đứng. Vài giờ sau, một đại đội của 3e BPC đến tăng viện. Lực lượng liên hợp còn đẩy lùi được đợt tấn công thứ hai. Sau nửa đêm, quân Việt Minh rút lui. Cứ điểm được giữ vững.

Tù binh Việt Minh


Sáng hôm sau, người ta tìm thấy 64 thi thể Việt Minh xung quanh cứ điểm. Bên phía Pháp, ngoài Trung úy Durand, có 5 lính Lê dương hy sinh, 13 người bị thương và 6 người mất tích. Sau thất bại bất ngờ này, ông Giáp hủy cuộc tấn công ban đầu. Phần còn lại của tháng 11, Na San trở nên hơi yên tĩnh, chỉ bị pháo kích lẻ tẻ. Việt Minh tập hợp lại lực lượng và sửa đổi kế hoạch. Tuy nhiên, tình báo cho thấy Việt Minh chưa từ bỏ ý định chiếm thung lũng và đánh bại quân Pháp. Uy tín của Việt Minh đang bị đặt cược.


Đêm 30 tháng 11 đến 1 tháng 12, Việt Minh mở cuộc tấn công mới. Lần này nhằm vào hai cứ điểm ở rìa tây và đông thung lũng: PA 22 bis và PA 24, do phụ lực Thái và bộ binh Maroc trấn giữ. Chắc họ đoán lính Maroc đáng giặc dỡ. Khoảng 2 giờ 30 sáng, một tiểu đoàn Trung đoàn 141, Sư đoàn 312 mở cuộc tấn công quy mô lớn kèm oanh kích mạnh. Cứ điểm 22 bis (cách sân bay khoảng 1 km về phía tây) nhanh chóng bị chiếm; lực lượng Thái phòng thủ rút lui mau chóng. Đồng thời, ở phía đối diện, Cứ điểm 24 bị Trung đoàn 102, Sư đoàn 308 tấn công. Dù có pháo binh và cối yểm trợ, cứ điểm vẫn thất thủ sau ba giờ chiến đấu.


Tuy nhiên, Đại tá Gilles đã có kế hoạch dự phòng. Đó là phản công lúc bình minh bằng một tiểu đoàn nhảy dù đang chờ trong lực lượng dự bị gần sân bay. Gilles ra lệnh bắn chuẩn bị bằng cối 120 mm trong ba giờ vào Cứ điểm 22 bis đã mất, sau đó 2e BEP phản công lúc khoảng 7 giờ sáng. Ngọn đồi nhanh chóng được chiếm lại.

Mấy ông ta này chắc về nhà vợ la chắc không nghe


Tình hình tại Cứ điểm 24 phức tạp hơn. Khoảng 7 giờ sáng, sau pháo kích mạnh, quân của Tiểu đoàn Nhảy dù Thuộc địa 3 phản công. Họ phải cận chiến bằng lưỡi lê, được hỗ trợ bởi cối và máy bay. Đến trưa, hai đại đội 2e BEP và một đại đội Maroc đến tăng viện. Cuối cùng khoảng 14 giờ, ngọn đồi được giành lại. Những cuộc phản công này đã ngăn không cho Việt Minh đặt súng phòng không trên các ngọn đồi và bắn hạ máy bay Pháp, vốn cực kỳ quan trọng đối với lực lượng mặt đất.


Mặc dù đã đánh giá thấp sức mạnh phòng thủ của Na San dẫn đến hai thất bại và tổn thất lớn, ông Giáp vẫn kiên quyết chiếm thung lũng. Cuộc tổng tấn công được dự định ngay đêm hôm sau (1-2 tháng 12), lại nhắm vào hai vị trí phòng thủ khác nhau.


Khoảng 0 giờ 45, ở phần đông của dãy đồi trên, Trung đoàn 88 (Sư đoàn 312) và Trung đoàn 174 (Sư đoàn 316) mở cuộc tấn công quy mô lớn vào Cứ điểm 26, cứ điểm lớn nhất Na San. Một dãy núi dài khoảng 800 m với sườn dốc đứng đã được biến thành pháo đài với hầm ngầm, hố chiến đấu, hào và dây thép gai dày đặc. Cứ điểm do Tiểu đoàn 3, 3e REI của Thiếu tá Favreau (cựu chiến binh Lê dương nổi tiếng, mất một mắt trong Thế chiến II) trấn giữ.


Pháo binh Việt Minh bắn không ngừng, trong khi quân tấn công dùng ngư lôi Bangalore (ống tre chứa thuốc nổ) phá dây thép gai. Lính Lê dương để địch tiến sát hào rồi mới bắn. Pháo binh Pháp, bao gồm CMLE, can thiệp chính xác. Máy bay Pháp thả dù sáng và ném bom vào các khe núi gần đó.

Đến khoảng 2 giờ sáng, đợt tấn công thứ hai bị đẩy lui. 4 giờ 30 sáng, đợt cuối cùng bị chặn đứng. Đến 5 giờ sáng, địch kiệt sức rút lui, để lại gần 240 thi thể. Bốn đại đội của Tiểu đoàn 3e REI chỉ tổn thất 7 chết và 22 bị thương. Đánh cả đêm tì mệt, phải rút lui.

Đồi núi phòng ngự, ở dưới bò lên là hơi mệt

Khoảng 1 giờ 30 sáng, ở phía tây dãy đồi dưới, Trung đoàn 209 (Sư đoàn 312) pháo kích Cứ điểm 21 bis do Đại đội 10, 5e REI dưới quyền Trung úy Bonnet trấn giữ. Sau khi phá dây thép gai, địch tiến sát đến chỉ còn khoảng 20 mét từ Bộ chỉ huy đại đội. Trong hầm, Trung úy Bonnet chỉ huy hỏa lực. Bỗng một quả lựu đạn địch rơi vào hộp chất nổ. Ông nhanh tay vứt ra ngoài nhưng nó nổ ngay, khiến ông hy sinh. Trung úy Blanquefort thay thế chỉ huy. Tại trung đội 4 của Trung úy Bachelier, dù bị thương, ông vẫn bình tĩnh di chuyển chỉ huy và khích lệ binh sĩ cho đến khi bị bắn vào cổ và hy sinh.


Cuối cùng, máy bay A-26 đến ném bom và napalm. Khoảng 4 giờ sáng, Việt Minh giảm cường độ tấn công. Đến 7 giờ sáng, im lặng. Khoảng 350 thi thể Việt Minh và 50 người bị thương nằm trước cứ điểm cùng nhiều vũ khí. Bên Pháp: hai sĩ quan và hai lính Lê dương hy sinh, 11 người bị thương.


Sáng cùng ngày, Đại tá Gilles báo về Hà Nội qua radio: “Chúng tôi không bị chọc thủng! Tất cả vị trí vẫn giữ vững! Đó là một trận mưa lửa không thể tả.” Lúc đó ông chưa biết Trận Na San đã thực sự kết thúc.


Nỗ lực chiếm Na San của Giáp bị thất bại. Chỉ trong ba đêm, các sư đoàn của ông tổn thất ít nhất 1.000 người chết và nhiều người bị thương, bị bắt. Bốn ngày sau, quân Việt Minh mệt mỏi và đói rút lui, chỉ để lại một số đơn vị nhỏ quan sát và quấy rối.


Ngày 10 tháng 12, tại Na San, Tướng Salan trao Huân chương Chiến công Nhà hát Chiến tranh Ngoại bang cho hai tiểu đoàn bộ binh Lê dương. Các đơn vị được khen thưởng ở cấp Quân đội (cao nhất).


Nhờ tổn thất lớn về nhân lực, lương thực và đạn dược, ông Giáp phải hủy kế hoạch xâm lược Bắc Lào. Chiến thuật của Salan đã thành công, mang lại thắng lợi rõ ràng cho Pháp.


Tuy nhiên, sau khi Tướng Salan rời đi năm 1953, Bộ chỉ huy Pháp mới tại Đông Dương quyết định bỏ hoàn toàn căn cứ kiên cố Na San để chiếm một thung lũng lớn hơn, khó phòng thủ hơn: Điện Biên Phủ. Quyết định này cuối cùng dẫn đến thất bại lớn của Pháp và mất Đông Dương.

người Pháp bỏ căn cứ này dọn đến Điện Biên Phủ và đưa đến thất trận


Mình đọc trên Facebook của ông Việt Lê, thì được biết lý do thực dân pháp cho phép các bộ tộc người Thái tự trị ở Đông-Dương là vì họ trồng thuốc phiện bán cho người Pháp. Quân đội pháp dùng tiền này để trang trải kinh phí chiến tranh Đông-Dương. Thấy cũng có lý vì Pháp quốc mới banh ta lông sau đệ nhị thế chiến nên không có tiền để tái thiết Pháp quốc. Nên đoán lý do Việt Minh muốn đánh vùng này để phá hoại kinh tài của người Pháp.


Thực tế, khác với Bộ chỉ huy Pháp mới, ông Giáp đã rút được kinh nghiệm quý báu từ Na San và áp dụng thành công trong Trận Điện Biên Phủ nổi tiếng năm 1954. Và được các sĩ quan do Trung Cộng đưa sang hỗ trợ. Nên khi quân đội pháp, bỏ căn cứ Na-San và muốn dàn trận ở chiến địa lớn hơn là Điện Biên Phủ. Việt mInh nhờ lòng dũng cảm đã cố đưa lên các đỉnh núi các dàn pháo do Trung Cộng viện trợ và từ trên núi tha hồ nả pháo xuống các căn cứ, phòng ngự của lính pháp. Cuối cùng đưa đến sự đầu hàng, và sau hiệp định Geneva, pháp rút khỏi Việt Nam vào năm 1956.


Việt Minh được sự ủng hộ của bộ tộc người Mèo, Thái Đen vùng này nếu không thì khó áp đảo được lính pháp trấn thủ nơi đây. người Pháp cho ngừoi Thái Trắng nhiều đặc quyền tỏng khi người thái đen và người Mèo ở vùng này trơ mỏ nên họ giúp Việt mInh. Xin trích từ Facebook Viet Le:


“Cần biết Điện Biên Phủ nằm trên đất của Liên bang Thái tự trị gồm 3 tỉnh Tây Bắc do Pháp cắt cho gia tộc họ Đèo do Đèo Văn Long, một người Thái trắng đứng đầu vào sau Thế chiến thứ 2. Khu vực này từ lâu đã được gọi là Xứ Thái, do Pháp phong cho Đèo Văn Trị, cha của Đèo Văn Long cai quản từ cuối thế kỷ 19.


Theo Alfred McCoy, một nhà nghiên cứu táo bạo, Đèo Văn Long là đồng minh lâu năm của Pháp. Không những thế, ông này còn đóng vai đầu nậu thu mua hoa anh túc để bán lại cho Pháp. Số hoa anh túc thô này sẽ được chở về Vũng Tàu để bào chế thành á phiện, rồi sau đó bỏ cho thủy tặc Bình Xuyên phân phối ở khu Chợ Lớn. Đây là một nhánh trong đường dây sản xuất và tiêu thụ thuốc phiện do chính phủ Pháp duy trì từ trước Thế chiến thứ 2. 


Sau Thế chiến, chính phủ Pháp phát động phong trào bài trừ thuốc phiện và cắt đứt đường dây này. Nhưng tình báo Pháp thuộc quân đội, cụ thể là cơ quan SDECE, thông qua lực lượng gọi là Liên đoàn biệt kích dù hỗn hợp đã ngay lập tức tiếp quản đường dây thuốc phiện này. Chiến phí của 9 năm chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất của Pháp được trang trải từ nguồn thu thuốc phiện trên.


Bên cạnh vùng Cánh đồng Chum ở Lào và vùng Tam giác Vàng (lúc này quy mô vẫn còn yếu) thì khu xứ Thái là nơi có sản lượng hoa anh túc rất cao, đem lại nguồn lợi lớn cho quân đội Pháp. Do đó, có thể hiểu được khi Pháp quyết định đặt tập đoàn cứ điểm ngay tại Điện Biên Phủ, thung lũng lớn nhất của Liên bang Thái tự trị, nơi chiếm 13% sản lượng hoa anh túc và 30% sản lượng lúa của toàn liên bang. Bên cạnh đó, Điện Biên Phủ có thể xem như một tấm khiên để bảo vệ đồng minh Đèo Văn Long.


Tuy nhiên, sai lầm chính của Pháp dẫn đến thất bại chung cuộc tại Điện Biên Phủ là họ đã không nắm rõ tình hình ở đây. Đèo Văn Long và nhóm Thái trắng tuy nắm quyền nhưng chỉ chiếm thiểu số trong khu liên bang, bên cạnh nhóm Thái đen đông hơn, và 50 ngàn người Mèo. Những người Mèo, sắc dân được biết đến rộng rãi hơn ngày nay như người H’Mong, sống ở triền núi, có lối canh tác thích hợp cho việc trồng hoa anh túc ở vùng Tây Bắc. Chính những người Mèo trồng hoa anh túc và cung cấp phần lớn sản lượng của khu Xứ Thái. Đèo Văn Long từ khi được giao quyền quản lý Liên bang Thái tự trị đã dùng quân đội địa phương người Thái đàn áp và ép giá hoa anh túc từ người Mèo. Người Mèo ở vùng Tây Bắc nhận giá thấp hơn mười lần so với giá thị trường, mà không có lựa chọn khác. Do đó, trong hơn mười năm sống dưới sự quản lý của Đèo Văn Long, người Mèo đã quá bất mãn và dần bỏ sang cảm tình Việt Minh.” (Hết trích)


Mình nghe kể thủ tướng Pierre Mendes France kêu nếu hoà đàm không thành công sẽ đem bom nguyên tử. Cuối cùng thì hiệp định Geneva được ký kết và các cường quốc chia đôi Việt Nam thành hai phần khiến Việt mINh điên tiết và chuẩn bị đánh tiếp với lính mỹ.


Vấn đề là đánh cho mỹ cút nguỵ nhào cho cố rồi kêu gọi người Mỹ trở lại Việt Nam đầu tư này nọ. Như một cựu sĩ quan bộ đội ở Hạ Long kể với mình là ông ta vào nam đánh cho mỹ cút nguỵ nhào rồi bây giờ mỹ hay nguỵ nó vào ăn, phải phục vụ chúng nếu thì không được tiền boa. Chán Mớ Đời 


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 


Lịch Sử Trường Thiếu Sinh Quân Đà Lạt

 Lịch Sử Trường Thiếu Sinh Quân Đà Lạt

Cổng trường thiếu sinh quân Đà Lạt xưa, sau này Việt Nam Cộng Hoà dùng trường này để thành lập viện đại học Đà Lạt 


Dạo này không hiểu ông tây bà đầm nào lại rủ rê mình vào nhóm cựu lính Đông-Dương của người Pháp khiến mình thấy nhiều hình ảnh Việt Nam khi xưa, trước khi mình ra đời, thời gian tây đánh nhau với Việt Minh. Các người lính pháp xưa kể những trận đánh từ miền bắc, nơi học lịch sử Việt Nam mình có nghe thầy giáo nhắc đến nhưng chưa bao giờ lên đó như Yên BÁi, nơi ông Nguyễn Thái Học và các đồng chí bị hành quyết. Có tấm ảnh một người việt minh bị bắn chết nơi đồng ruộng, khiến mình liên tưởng đến cái chết của ông chú ruột mình bị tây bắn chết ở Sơn Tây, lúc 15 tuổi.

Chiếc tàu Poincarre đã đưa các thiếu sinh quân về pháp, tiếp tục học. Thấy có mẹ Việt Nam đưa con lên tàu


Nói chung thì hình ảnh đăng tải đa số là do con cháu đưa lên vì thế hệ này đã chết nhiều hay quá già nhưng cũng giúp mình có cái nhìn thời xưa ở Việt Nam nhất là miền Việt Bắc, nơi kháng chiến trường kỳ mà nhà thơ Quang Dũng và Hoàng Cầm hay nhắc đến. Cho thấy tây hay ta thì sớm muộn gì con cháu sẽ tìm tòi về lịch sử của cha ông họ.


Có tấm ảnh chụp ở bến cảng Sàigòn đưa các thiếu sinh quân Đà Lạt về nước vì Pháp rút lui khỏi Đông-Dương. Trường thiếu sinh quân mà tây gọi là École Militaire Préparatoire de Đà Lạt (Trường Võ bị Dự bị Đà Lạt, còn Việt Nam Cộng Hoà gọi là trường Thiếu Sinh Quân) là một trong những cơ sở đào tạo quân sự đặc biệt nhất từng tồn tại tại Đông Dương thuộc Pháp. Mình có tấm ảnh chụp mấy ông tây con hay mít con, gọi là Les Enfants Des Troupes, khi tây về nước thì Việt Nam Cộng Hoà dùng trường này để xây dựng viện đại học Đà Lạt sau này. Để đi tìm xem để ở đâu. Mình có mấy ngàn tấm ảnh về Đà Lạt xưa nên mỗi lần xem là hoa cả mắt.



Mẹ đưa tiễn con đi pháp không biết bao giờ trở lại
Thiếu sinh quân trên tàu nhìn lại và bắt chước ông Enrico Macias hát J’ai quitté mon pays


Trường được thành lập vào năm 1939 tại Đà Lạt dưới thời chính quyền Pháp, với mục tiêu đào tạo con em sĩ quan, con em công chức, và thanh thiếu niên ưu tú, để chuẩn bị cho con đường quân nghiệp trong quân đội Pháp. Khi xưa ở tây phương, có các trường đào tạo con cháu hoàng gia trở thành các sĩ quan quân đội hoàng gia.


Trường này đa số là con lai tây gọi là métisses, người Việt không nhận mà người Pháp cũng nơ-pa. Con lai đây là cha pháp, mẹ Việt Nam, Cao Miên hay Ai Lao. Mình đọc một cuốn sách của ông lai tây hay tây lai. Rất cảm động. Nên nhớ là trường Couvent des Oiseaux ở Đà Lạt, khi xưa được thành lập cũng có con lai học nhiều. Mình có đọc một cuốn sách của một cô đúng hơn là bà tuổi lớn hơn mình, con lai gốc phi châu, cựu học sinh Couvent rất tội nghiệp vì bà ta kể bị kỳ thị ở Việt Nam cũng như khi về tây. Lai tây trắng kỳ thị bà ta vì lai tây đen. Kinh


Bác nào đọc được tiếng tây thì nên tìm cuốn sách của ông tây lai này đọc trên trang nhà Banh-mi.co

Con lai, tôi không chọn lựa. Ở Quảng Yên, thành phố tôi sinh sống, người ta cấm tôi vào các hầm trú bom. Sau này, ở Pháp quốc, người ta kêu tôi trở về xứ mày…. 

Mô hình của trường được xây dựng theo kiểu các trường quân sự dự bị (écoles militaires préparatoires) của Pháp, tương tự các trường ở: Autun, Aix-en-Provence, hay La Flèche. Đây không phải là học viện sĩ quan hoàn chỉnh như École spéciale militaire de Saint-Cyr, hay như trường West Point của Hoa Kỳ mà là bậc trung học quân sự nội trú nhằm chuẩn bị thanh niên cho tương lai quân sự và hành chính. Hình như tây có trường huấn luyện phi công thuộc địa ở Maroc, nơi ông Nguyễn Cao Kỳ và ông Cung Trầm Tưởng được pháp chọn cho đi học lái máy bay, rồi ghé Paris một thời gian ngắn đủ giúp ông Cung Trầm Tưởng làm mấy bài thơ nhớ đời. Và ông Kỳ kiếm được bà đầm mang về Việt Nam.


Mình có hai anh bạn; một khi xưa theo học trường Thiếu Sinh Quân ở Vũng Tàu, mà tháng 7 này họ có đại hội Thiếu Sinh Quân ở quận Cam và một anh là Quốc Gia Nghĩa Tử. Khiến mình cứ lộn hoài. Anh Quốc Gia Nghĩa Tử thì mê vào trường Thiếu Sinh Quân, theo nghiệp đao binh như ông bố đã tử trận nhưng không được vào vì phải thi cử hay chi đó.

Năm 1939, người Pháp thành lập trường Thiếu Sinh quân tại Đà Lạt, do thiếu uý Savani điều hành theo đường lối của trường Autun, ngôi trường nơi ông xuất thân. Khởi đầu chỉ có một chục thiếu sinh quân nhưng sau này con số lên đến 150 người.

Năm 1944, Nhật Bản đảo chánh nên trường chuyển về Cao Miên. Năm 1951-1951 thì tướng De Lattre De Tassigny cho mở lại tại Đà Lạt. Từ năm 1954 đến năm 1956 thì trường đổi về Cap Saint Jacques, (Vũng tàu). Sau này Việt Nam Cộng Hoà tiếp tục sử dụng trường thiếu sinh quân ở Vũng tàu để đào tạo các thiếu sinh quân.


Vì sao trường được đặt tại Đà Lạt. Người Pháp xem Đà Lạt như: “tiểu Paris” của Đông Dương, nơi nghỉ dưỡng cao nguyên cho dân họ và binh sĩ và trung tâm giáo dục kiểu Pháp. Khí hậu mát mẻ của Đà Lạt được cho là thích hợp cho: huấn luyện thể chất, giáo dục nội trú, và xây dựng tinh thần kỷ luật. Mình có xem bản đồ phát triển Đà Lạt thì thấy phái sau trung tâm nguyên tử lực, họ dự định thành lập một doanh trại lính pháp rất to lớn.


Trong thời Pháp thuộc, Đà Lạt tập trung nhiều trường nổi tiếng: Lycée Yersin, các trường dòng, trường quân sự và cơ sở hành chính cao cấp. Vì vậy việc đặt một trường võ bị dự bị tại đây hoàn toàn phù hợp với chiến lược thuộc địa của Pháp.


Các học sinh được gọi là: “enfants de troupe” (thiếu sinh quân). Họ sống nội trú trong môi trường quân đội: mặc quân phục, học văn hóa theo chương trình Pháp, rèn luyện thể lực, học quân sự căn bản, và chịu kỷ luật nghiêm ngặt. Ngôn ngữ chính là tiếng Pháp.


Nhiều học sinh là: người Pháp sinh tại Đông Dương, người Việt thuộc tầng lớp trung lưu hoặc thượng lưu, con em quân nhân phục vụ trong quân đội thuộc địa. Trường không chỉ đào tạo kiến thức quân sự mà còn hình thành một tầng lớp tinh hoa trung thành với hệ thống Pháp.


Chiến tranh Đông Dương bùng nổ sau Thế chiến II, vai trò của trường thay đổi. Nhiều cựu học sinh gia nhập quân đội Pháp, quân đội Liên hiệp Pháp, hoặc sau này là quân đội Quốc gia Việt Nam.


Trong giai đoạn chiến tranh: tinh thần chống cộng, kỷ luật quân đội, và bản sắc “Franco-Indochinois” (Pháp–Đông Dương) được nhấn mạnh mạnh mẽ hơn. Một số học sinh sau này trở thành sĩ quan trong: Quân lực Việt Nam Cộng hòa, quân đội Pháp, hoặc các lực lượng đặc biệt.


Biến cố 1954 và sự kết thúc tại Việt Nam

Lớp học của trường Thiếu Sinh Quân pháp khi xưa, nay là viện đại học Đà Lạt 
Mấy ông tây lai không được người Việt và người Pháp công nhận nên cho vào trường Thiếu SInh Quân. Mấy người tây lai làm việc đắc lực cho mật thám pháp, phòng nhì vì biết tiếng Việt và người Việt nên tra khảo tìm thông tin rất dễ. Đà Lạt có vụ bắn chết mật thám tây lai ở trước tiệm Đức Xương Long khiến 20 người theo việt minh bị bắt và xử tử tại Cam Ly.
Nhìn hàng rào mới nhớ đến hàng rào ở trường Petit Lycee.
Cổng trường



Sau khi thất bại tại Điện Biên Phủ và hội nghị Geneva khiến người Pháp phải rút khỏi Đông-Dương, sự hiện diện quân sự của Pháp tại Đông Dương suy giảm nhanh chóng. Chính quyền Pháp quyết định di chuyển các học sinh của trường sang Pháp. Ngày 2 tháng 2 năm 1956, các thiếu sinh quân rời Vũng Tàu lên tàu Raymond Poincaré , cựu tổng thống Pháp để tới Autun, Pháp quốc.


Đây là một khoảnh khắc mang tính biểu tượng: sự kết thúc của một thế giới thuộc địa cũ, và sự tan rã dần của tầng lớp quân sự Pháp tại Đông Dương. Nhiều học sinh lúc ấy còn rất trẻ, phải rời quê hương lần đầu tiên để sang mẫu quốc mà họ chỉ biết qua sách vở và giáo dục Pháp.


Tại Autun, các học sinh được nhập vào hệ thống trường quân sự dự bị Pháp. Một số tiếp tục phục vụ quân đội Pháp, tham chiến tại Algérie, sau này có chiến tranh Algerie với cuộc đảo chánh của tướng Salan,… rồi gia nhập OAS (tổ chức quân đội bí mật) hoặc trở thành công chức và kỹ sư tại Pháp. Một số khác sau này di cư sang Hoa Kỳ, Canada, Úc.


Đối với nhiều người, ký ức về Đà Lạt trở thành ký ức tuổi trẻ, biểu tượng của Đông Dương đã mất, và một bản sắc nằm giữa hai thế giới vừa Pháp, vừa Việt.


Nhiều người thường nhầm lẫn trường này với Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt. Hai trường khác nhau: trường Võ bị Dự bị Đà Lạt (thiếu sinh quân) do Pháp lập, dành cho thiếu niên, cấp trung học quân sự dự bị. Trong khi trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam / Việt Nam Cộng Hoà thành lập thay thế trường lục quân của Pháp thành lập trước đây; đào tạo sĩ quan trưởng thành, mô phỏng theo Saint-Cyr và West Point.


Ngày nay, Trường Võ bị Dự bị Đà Lạt không còn tồn tại, nhưng nó vẫn mang ý nghĩa lịch sử đặc biệt. Nó phản ánh hệ thống giáo dục thuộc địa Pháp, quá trình hình thành tầng lớp quân sự bản xứ, và sự chuyển tiếp đầy biến động từ Đông Dương thuộc Pháp sang thời kỳ hậu thuộc địa.


Đối với nhiều cựu học sinh và gia đình họ, trường không chỉ là nơi học tập. Nó là một cộng đồng, một ký ức về Đà Lạt xưa, và một phần của lịch sử Đông Dương thế kỷ 20. Anh bạn nha sĩ, khi xưa ở Việt Nam đi thiếu sinh quân học ở Vũng Tàu, kêu rất thương bạn cùng lớp hay dưới lớp. Nói chung anh ta kể là các thiếu sinh quân ở trường khi xưa như anh em nên mỗi lần có tổ chức đại  hội thiếu sinh quân là anh ta bay về tham dự và nhậu mệt thở với các bạn học một thời. Tháng 7 này, đồng chí gái đã mua vé đi dự đại hội thiếu sinh quân ở Quận Cam. Xong om


Ai đi pháp chơi thì ghé trường này xem viện bảo tàng của họ. https://www.terre.defense.gouv.fr/art-patrimoine-terre/nos-musees/musees-larmee-terre/musee-enfants-troupe


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn