Mối tình vắt vai xưa

 Mối tình vắt vai xưa



“Ê mày có nhớ Lê Thị Hồng Diệp”, Không. “nhà ở đường Phan đình Phèo, chỗ Xóm Giếng nhìn qua”, chỗ khách sạn Mimosa, có cái dốc lên nhà thờ Tin Lành, đường Hàm Nghi. “Đúng rồi”. Không biết. Khi xưa mày có nhiều em mê mà mày có bao giờ thố lộ cho tao đâu mà biết. Đó là câu hỏi của anh bạn học xưa. Về già anh ta lâu lâu buồn đời cô lựu, gọi hỏi mình về mấy cô khi xưa anh ta quen ở Đà Lạt khiến mình ú ớ. Lý do là tuy bạn học nhưng anh chàng này có nhóm bạn riêng để tâm sự về gái gú còn mình thì chỉ biết đánh bi-da, đá banh vớ vẩn, chưa giác ngộ tình yêu trai gái như anh ta.


Lâu lắm mình nghe ai nói lại cụm từ “Trường Thành Nhân” nơi mình học hè với ông giáo Kim, người bắc. Nói chuyện với anh bạn thì mới lần mò ra khu vực này khi xưa. Anh ta kể là có quen cô nào ở khu vực này tên Lê Thị Diệp Hồng, Lá Đỏ. Mình đoán là Hồng Diệp, nhà ở ngay 4 căn nhà sát liền, cạnh tiệm đóng hòm và tiệm bán gạo Sơn Hà, quen bà cụ mình vì hay mua gạo của ông bà này để bán lại. Mình nghĩ thời đó dân đóng hòm là giàu nhất Đà Lạt. Có một chỗ khác ở đầu đường Phan Đình Phùng, chỗ nhà Nguyễn mInh Dũng đánh bóng bàn. Lính chết như rạ nên chôn cất nhiều.


Mình nói hồi học tiểu học, hè học với ông giáo Kim thì có thấy một cô tuổi trạc tụi mình hay đứng dựa tường ngay khách sạn Mimosa. Hay chửi lộn với cô ta. Mình khi xưa là có cái tật không sợ con gái, chửi lộn bú xua la mua. Chỉ khi lấy vợ rồi thì cái tính phản động phản kháng phụ nữ bị chìm vào lãng quên.


Năm 1992, khi mình về Đà Lạt, đi ăn phở với ông cụ ngay sau lưng dãy nhà Đội Có, góc tiệm vàng Thương, bến xe Tùng nGhĩa khi xưa thì gặp ông giáo Kim, nên mời ăn phở luôn. Đó là bát phở tạ ơn thầy giáo thời tiểu học. Ông giáo kêu mới đi tây về, lấy bà vợ sau nên yêu đời yêu người lắm. Ông ta có người con trai tên Ánh hình như bị chột con mắt hay bị lé, học Yersin trên mình mấy lớp, có dạy hè mình tại nhà in của Phước Lâm Viên. Nhà ông giáo Kim ở phía sau phòng mạch Bác sĩ LƯơng và nhà bảo sanh Trương Thị Lập, góc Phan Đình Phèo và Duy Tân.


Em khi xưa, gửi thiệp chúc tết cho tao đề bài thơ : Người đi qua nhà tôi ngày 02 bận. Mắt xa đưa nên chẳng thấy tôi buồn. Hồn lưu lạc chưa hề 1 chúa . Yêu 1 người ta dâng cả tình thương.“ Mình nghe anh ta kể thì choáng váng luôn không ngờ khi xưa anh chàng ta học cùng lớp mà thi ca đủ trò trong khi mình Chán Mớ Đời với bằng bằng trắc trắc. Học cô Ngô Thị Liên thơ Đường với thơ Muối là mình nổi điên trong khi anh bạn lại được mấy cô gửi thư đưa vào thi ca. Kinh


Mình hỏi chớ không phải Lá Diêu Bông, đầu đường Phan Đình Phèo gửi cho mày. Anh ta kêu tao nhớ ra rồi. Em lá diêu bông đó gửi bài thơ “nắng mưa là bệnh của trời, tương tư là bệnh của tôi yêu chàng”. Về già anh ta có kỷ niệm về thời học sinh, gái gú tình yêu vớ vẩn cũng vui. Không có ai để thố lộ một thời vàng son cực thịnh, đắt đào về gái gú nên gọi mình kể chuyện đời xưa. Một thời để yêu một thời để không quên trước khi bị Alzheimer. Anh chàng có cái hay là quen toàn mấy cô tên Lá Diêu Bông, lớn tuổi hơn và sau này cũng lấy vợ tên Lá Diêu Bông và lớn tuổi hơn.


Nghĩ lại cũng may chớ thời đó mà hắn thố lộ tình yêu và thi ca, rủ mình vào nhóm của anh ta thì chắc khó đi du học bên tây. Đầu óc cứ nghĩ đến mấy em thì học không vào.


Anh chàng ở đường Phan đình Phèo lại biết đàn hát nên chiều chiều ngồi trên gác đánh đàn thì mấy cô nữ sinh đi ngang nhà nhìn lên là thấy vui đời cô lựu, cứ tưởng anh bạn hát cho mình nghe “yêu tôi hay yêu đàn”. “Người đi qua nhà tôi ngày 02 bận. Mắt xa đưa nên chẳng thấy tôi buồn. Hồn lưu lạc chưa hề 1 chúa . Yêu 1 người ta dâng cả tình thương.“ anh ta hay rủ mấy cô lên Sân Cù hay Thung Lũng Tình Yêu, đem theo cây đàn để đàn cho mấy cô hát. Anh ta kể có một cô bận váy trắng quỳ xuống cỏ, hát bài “mùa thu cho em” trong khi anh chàng đánh đàn, phê không thể tả. Em xinh quá như một thiên ethần. Rồi 75 đến chạy mất dép. “Sao em không như một thiên thần,…”


Anh chàng hỏi mình biết Nguyễn ĐÌnh Dũng ở đường Hai Bà Trưng, học chung với ông chú tao. Mình nói hàng xóm. Ông thần này mình nhớ năm 6 ème hay 5 ème thì phải trong trường Yersin có Gala, ông thần đóng vai Thân, bị bà vợ tên Loan, cãi nhau ra sao, bà vợ lấy kéo đâm cho một nhát đi tây luôn. Sau này lấy vợ, đồng chí gái lại thích may áo quần, hay cầm cái kéo cắt vải nên mình không dám lộn xộn, nhớ gương của tên gia trưởng Thân trong Đoạn Tuyệt là câm mồm ngay.


Ông thần Dũng này, hay dạy chị Lan con bà Tân gầy nhảy đầm. Chị này lâu lâu thấy chạy lên nhà chú Dũng, mình gọi ông thần bằng chú vì ông thần gọi bố mẹ mình bằng anh chị. Hai người tập nhảy xì-lô xì-la gì đó, mình chỉ biết đứng nhìn hay xem hình Playboy. Ông thần Dũng này có báo Playboy nhiều nên lâu lâu mình chạy qua nhà, xem ké. Thấy mấy bà đầm ở truồng khiến mình thất kinh thấy lạ khi thấy lông xoắn xoắn ở cái mu. Mấy chục năm rồi không gặp chị Lan, hình như chị ta có liên lạc với mình, nay ở San Jose, có con bà Hoà trên đó. Có tên ở cư xá Địa Dư, nay ở Gia-nã-đại, đi an ninh quân đội kể là khi xưa rất kết chị Lan này. Sau này ông thần Dũng đậu tú tài về học sư phạm ở Sàigòn, rồi dạy pháp văn. Năm 1973, được đi tu nghiệp bên pháp mấy tháng như thầy Phan Nam. Năm mình đi du học có ghé thăm bà Thường, mẹ đẻ của ông thần ở Sàigòn.


Bà Thường này vui lắm, khi cô con gái đầu lòng sinh con so ở cử thì sáng nào bà cũng qua nhà kêu mình ra sân đưa cái cốc rồi bắt mình tè vào để cho cô con gái uống cho bổ chi đó. Nguyên một tháng ở cử, sáng nào mình cũng phải mở robinet cung cấp nước tiểu nhi đồng cho bà. À nhớ rồi con gái bà tên Oanh. Cô lấy ông chồng nào ở Nha Trang. Mỗi lần ông chồng lên Đà Lạt, hai người ban đêm ngồi ngoài sân thổi sáo. Hồi đó mình chưa giác ngộ cách mạng, nếu không đã quảng cáo bán nước tiểu mỗi sáng cho dân Đà Lạt uống trị bá bệnh như Xuyên tâm Liên. Nước tiểu sơn đen bổ thần hoàn. Mại dô mại dô. 


Mình có một kỷ niệm khá đau thương với gia đình này. Mình ở dãy cư xá Công Chánh có đến 7 căn hộ liền nhau nên trên gác có lỗ ăn thông suốt 7 căn nhà. Một hôm Lê Công Hùng, con ông Lê CÔng Oai, làm trung tâm thẩm vấn, nhà đối diện nhà trung tá Tốn, ở đường Thi Sách, có con gái tên Quỳnh Thi, nghe nói có đôi mắt to đùng khiến ông Trịnh Công Sơn đi ngang nhà thấy hớp hồn làm bài hát “nắng thuỷ tinh”. Mình đọc tài liệu thì được biết bài ca bắt nguồn từ bà Dao Ánh nào chớ không phải Quỳnh THi. Ông thần Hùng này hay xuống nhà mình chơi vì dạo ấy hai đứa tập Thái Cực Đạo trong Adran với nhau.


Buồn đời, không biết làm gì, mình rủ hắn leo lên trần nhà rồi đi thám hiểm mấy nhà bên cạnh. Nhà mình là căn đầu rồi đến nhà ông Hà Thúc Mãn, cán sự công chánh, cháu của ông Hà Thúc Nhơn, bị bắn chết ở Nha Trang khi tử thủ chống tham nhũng. Rồi đến nhà bà Thường, rồi nhà bà Tước, bà Hoà, bà Vinh.


Mình dỡ cái nắp đậy trần nhà, độ 30 cm x 30 cm, lấy ghế bắt thang trèo lên, rồi đến phiên thằng Hùng. Thằng Hùng nhỏ con nhưng nó ăn cơm khoẻ như trâu. Xuống nhà mình nó đẫn một lần 6 chén cơm. Nó leo lên sau mình, mình dặn nó đi trên các cây gỗ, tránh đi trên plafond.


Lên trên attic xong thì mình đi về hướng nhà ông Mãn, rồi đến nhà bà Thường, tránh mấy lỗ plafond. Đến nhà bà Thường thì có cái tường cao chắn giữa nhà bà Thường và nhà bà Tước, được cái là nơi cao lên tới mái có một cái lỗ ăn thông đi suốt cả xóm. Mình bé con nên chui qua được. Thằng hÙng to con nên tìm cách chui qua cái lỗ thì đụng nhằm cục gạch khiến nó rớt xuống plafond nhà bà Tước nghe cái đùng. Mình thất kinh mặt xanh đít nhái, nghe chị Tí Chị, con bà Tước dưới plafond kêu Tèo ngủ đi. Khiến mình thất kinh, quay đầu lại ra dấu cho thằng hÙng quay lại. Thằng này lớ quớ ra sao thay vì đi trên các thanh gỗ rafter lại đạp trúng cái lỗ leo lên trần nhà của nhà bà Thường. Đội ơn bề trên nó đạp xuống cái lỗ thêm nó to con nặng như tạ gạo nên lọt xuống nhà bà Thường qua cái lỗ leo lên trần nhà.


Vấn đề là cái lỗ leo lên trần nhà lại được đặt ngay bàn thờ tổ tiên nhà bà Thường, có di ảnh của ông Thường. Thế là mình nghe tiếng rầm rồi loen xoen, nhìn xuống mình thấy thằng Hùng nằm cu đơ, còn bàn thờ, nến lư, chân đèn bay xuống đất hết, lăn leng keng. Mình sợ quá bay về nhà, leo xuống nhà rồi lén lén bò ra sân thì nghe tiếng bà Thường chửi thằng Hùng Đồ Mất dạy đủ trò. Mình giả bộ ngây thơ vô số tội đi lại thì thằng HÙng hỏi mình “Tao ăn chưa” cứ như tên Obelix trong truyện hoạt hoạ Asterix. Nó cứ đi theo mình về nhà mồm cứ hỏi tao ăn chưa trong khi bà Thường đi theo nó chửi banh xác luôn. Phải mất cả tiếng đồng hồ sau nó mới lấy lại hồn bay phách vía.


Mình chỉ nhớ cô gì chị chú Dũng lấy ông chồng là trung uý Công Binh, đóng ở đồn Quân Cụ trước ấp  Sòng Sơn, chỗ cổng vô vườn nhà mình tên Minh. Trưa chú về nhà ăn cơm rồi rồi ngủ trưa với vợ. Nên sau đó cô vợ cứ kiếm mình hỏi có thấy gì không hôm đó. Cô cứ tưởng trên gác, nằm vùng núp trên nhảy xuống bắt cóc ông chồng vì giường hai vợ chồng nằm cạnh bàn thờ. Mình chỉ nhớ cô lấy mền quấn lại người chớ mình chưa thấy gì cả. Chán Mớ Đời 


Mình nghe nói chú Dũng nay ở Hoa Kỳ, bị tai biến có cô con gái chăm sóc. Mình có hỏi anh bạn tìm dùm điện thoại để liên lạc xem còn nhớ đến mình. Em chú Dũng có một cô tên Bích, ngoài ra có hai người chị nữa, một cô đi du học ở Nhật về cắm hoa. Hôm trước có con bác Ngọc Robert, số 49B Hai Bà Trưng có liên lạc từ Úc Đại Lợi.


Mình nói anh bạn thì mày cứ lên Pha-sờ-bót mà kiếm chớ tao đâu biết đối tượng mày khi xưa là ai. Anh bạn này không có Pha-sờ-bót. Chỗ xóm giếng thì tao chỉ nhớ có thằng Thành, con ông nào làm cảnh sát, đá banh, cao lêu nghêu học Văn Học, có một cô tên là Ánh, bạn của Cái Bớt Một Thời vì sau khi đi cắm trại ở Hồ Than Thở về, tao có chở CBMT và cô này về. Còn ngoài ra thì chịu. Bác nào ở khu vực này có biết cô lá đỏ thì cho em xin.


Mình nói hôm trước tao kiếm được một em, đối tượng của mày khi xưa rồi Thị ả gọi điện thoại cho mày, đánh thức mày giữa đêm khuya như hồn tử sĩ tình yêu triệu hồn về sinh Nam tử Mỹ khiến mày mất ngủ. Bây giờ kiếm thêm thì mày chết sớm vì ngủ không được khiến hắn cười. Mấy đối tượng một thời cứ thay phiên gọi điện thoại đánh thức mày từ Coma về thì chỉ có chết thôi.


Có lần có bà nào nói quen anh bạn nên mình có nhắn tin cho biết, rồi bà này lại xin số điện thoại thì mình cho. Thế là bà ta gọi điện thoại vào lúc 11, giờ đêm nói chuyện rất lâu sau đó thì hắn hết ngủ, cả ngày cứ vật vờ như người thiếu ngủ. Chán Mớ Đời 


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Phục Hưng Ý Đại Lợi và hải quân Anh quốc


Ý Đại Lợi, không giống như phần còn lại của châu Âu thời Trung cổ, đã nổi lên như một tập hợp các nước được xây dựng với nền cộng hòa như Venice, Florence và Genoa trong khi phần còn lại của lục địa bị cai trị bởi các vị vua. Lý do đằng sau sự khác biệt này không phải là triết lý như mình được học như trước đây; mà là chất lượng của đất đai như cùng Toscana.

Cháu kêu bằng Bà, mẹ là gốc Nhật Bản nên đi học trường Nhật Bản. Họ dạy nó xếp giày dép nên tới nhà mình là nó xếp giày dép hết. Bác nào có cháu nội cháu ngoại nên cho đi học trường Nhật Bản 


Khi Đế quốc La Mã sụp đổ, mọi thị trấn ở Châu Âu bổng nhiên không còn sự bảo vệ của binh sĩ đế quốc. Sự vắng mặt của lực lượng đi tuần tra trên những con đường đế quốc, chống cướp bóc, tàu chở ngũ cốc và quyền lực trung ương đã khiến các thị trấn phải tự xoay sở để tự nuôi sống, tự bảo vệ và tự quản lý bản thân chỉ trong một đêm. Nói như Việt Nam Cộng Hoà trước 75 là tự túc tự cường sau khi mỹ rút lui với hiệp định Paris.


Một thị trấn được bao quanh bởi đất nông nghiệp màu mỡ có thể thích nghi với thực tế mới này. Các gia đình lãnh đạo của nó tập hợp trong một hội trường, thành lập một hội đồng, và gọi nó là “thượng viện” (senate) như thời kỳ dưới sự cai trị của người La Mã, đồng thời nắm quyền kiểm soát thị trấn. Đây chính là mô hình được các thành phố như Venice, Florence và hàng chục thành bang Ý khác noi theo.


Ngược lại, các thị trấn có đất nghèo không thể thích nghi tốt. Khi nguồn cung thực phẩm cạn kiệt và bọn cướp đe dọa sự an toàn của họ, người dân ở những thị trấn yếu thế đã chọn một chiến lược giản dị  quen thuộc: họ tìm đến trú ẩn trong những ngôi nhà kiên cố của các gia đình giàu có. Khi mình đi du lịch nước Georgia cạnh Nga thì có đến một vùng ở Caucase, thấy người dân xây mấy tháp cao bằng đá rất kiên cố, họ dự trữ lương thực cho cả năm ở trong tháp. Khi quân cướp hay các làng bên cạnh đói quá kéo lại cướp lương thực thì họ đóng cửa phía trong và chống chọi. Đói quá giặc bỏ đi. Vui lòng giặc đến đói quá giặc đi. 


Năm ngoái đi bộ 375 km ở vùng Toscana thì thấy rõ vấn đề, các làng hay thành phố đều được xây dựng trên đồi cao. Trong ngày mình đi bộ ở vùng ruộng nên thấp, cứ tung tăng vô tư như người Hà Nội  khi chiều đến thì phải leo đồi núi để vào các thành phố như San Gimignano, xung quanh là bức tường thành, chỉ có cổng đi vào. Đi cả ngày đã oải rồi tối phải bò lên đồi để vào thành phố ngủ đêm và ăn uống. Chán Mớ Đời 


Những ngôi nhà kiên cố này thường là các biệt thự (villas), nằm ở các trang trại kiên cố ngoài đồng quê. Dân tình đem gia đình đến tá túc như khi xưa Việt Cộng vào là bỏ chạy. “Hãy bảo vệ chúng tôi, và chúng tôi sẽ làm việc đồng áng trên đất của ngài,” dân thị trấn đề nghị tự làm nô lệ biến các đại chỉ có tường thành che chở thành bọn cường hào ác bá, có nợ máu với nhân dân. Các thị trấn trở nên trống rỗng, còn các biệt thự thì chật kín người. Đó là chế độ phong kiến khởi đầu, người nông dân bỏ đất của mình để làm tá điền cho các đại địa chủ để được bảo vệ với bọn cướp. Bình dân học vụ là xin vào ở trong ấp chiến lược để tránh Việt Cộng xâm nhập cướp đất cướp nhà và lương thực. Ngày ra làm ruộng tối rút vào làng.


Trước Mậu thân mấy người ở các vùng xôi đậu miền trung bỏ chạy vào Đà Lạt rồi đi làm thuê như chú Hai và chú Nhị làm vườn cho nhà mình vì vườn tược ở Quảng Ngãi bị Việt Cộng chiếm hết khiến bất an ninh. 


Nếu ai có dịp đi viếng Ý Đại Lợi về phía nam có nhiều thành phố, người dân xây nhà trong mấy hang đá như Matera,…rất lạ nhưng để hiểu khi xưa người ta phải sống còn ra sao. Chửi vào các hang đá để khi giặc cướp đến hơi lăn cục đá to đùng ở trong thì ngoại bất khả nhập. 


Cư dân định cư xung quanh những biệt thự này được gọi là villaggio, hay làng (village). Không giống như các thị trấn nhỏ, các ngôi làng là những chế độ quân chủ thu nhỏ. Chúng được cai trị bởi một lãnh chúa duy nhất, được những người theo phe ủng hộ, và được duy trì bởi tầng lớp nông dân cung cấp lương thực cho ông ta. Kết quả là, bản đồ châu Âu sau thời La Mã được định hình bởi năng suất nông nghiệp. Đất tốt màu mỡ tạo ra các nước được xây dựng chính trị trên nền cộng hòa, trong khi đất nghèo tạo ra các ngôi làng, từ đó dẫn đến sự xuất hiện của các lãnh chúa, và cuối cùng là các vị vua. Ý Đại Lợi thì phía nam đất không màu mỡ lắm như miền trung Việt Nam nên người dân Ý Đại Lợi từ từ bỏ quê ra đi lên miền bắc kiếm cơm hay di dân qua các Châu Mỹ. 


Trong lịch sử loài người khi quê mình nghèo thì thiên hạ bỏ xứ đi lập nghiệp nơi khác như bên ngoại mình bỏ xứ Huế lên Đà Lạt. Rồi mấy ông Việt Cộng vào cướp hết. Chán Mớ Đời 


Bắc Ý Đại Lợi sở hữu vùng đất nông nghiệp màu mỡ nhất châu Âu, đó là lý do tại sao Thời kỳ Phục hưng, một giai đoạn phát triển văn hóa và trí tuệ vĩ đại lại nở rộ ở đây. Không phải vì người Ý bẩm sinh thông minh hơn. Thay vào đó, đất đai màu mỡ của Italy đã duy trì một giai cấp thương nhân thịnh vượng trong thời gian dài. Những thương nhân này, khi đã có ảnh hưởng lớn, cuối cùng tiếp cận được văn học cổ điển HY-La, xây dựng những mái vòm tráng lệ, và thay đổi cả thế giới về tư tưởng và nghệ thuật đến ngày nay. 


Tương tự người Việt tỵ nạn khi mới sang Hoa Kỳ thì chỉ muốn kiếm cơm nhưng dần dần tích tụ được chút tiền thì bắt đầu mua tranh, nghệ thuật, xây nhà đủ kiểu theo văn hoá “biết bố mày là ai không.” Hay phong thủy và phong hỏa. 


Chỉ khi ai đó cung cấp cho chúng ta, chúng ta mới có thể thưởng thức được những tác phẩm kinh điển. Florence đặc biệt được hưởng lợi từ sự hỗ trợ này. Khi đế chế Ottoman chiếm đóng nước Hy-Lạp thì các nhóm trí thức, giàu có của xứ này mới lên thuyền vượt biển qua Ý Đại Lợi. Họ đem theo các sách cổ điển và triết học của họ khiến người Florence tò mò, khai hoá họ thêm tạo ra một văn hoá hoành tráng đưa nghệ thuật lên cao vút. Tương tự khi các giống dân trên thế giới di dân qua Hoa Kỳ, các nghệ sĩ, trí thức, kỹ sư,… đã giúp Hoa Kỳ trở thành một cường quốc dù mới được thành lập 250 năm nay.


Hay về mặt thực phẩm, nay đi khắp nước Mỹ đều có tiệm ăn bán pizza đeen từ người Ý Đại Lợi, hay taco của người Mễ hoặc phở hay bánh mì của người Việt. người Tàu thì khỏi nói chỗ nào trên thế giới đều có tiệm ăn tàu. 


Tương tự sau 1954, các văn nghệ sĩ di cư từ miền Bắc đã tạo nên một nền văn hoá mà đến ngày nay, người Việt vẫn còn tự hào. Ngay cả dân miền bắc vẫn tìm đọc các cuốn sách miền nam xưa, điển hình nhất là dân Hà Nội nghe nhạc Bolero trong khi nhạc sĩ Trần Tiến, trên đài truyền hình Việt Nam, kêu gọi loại bỏ Nhạc Đỏ, chỉ hát Nhạc Vàng đồi trụy của Nguỵ Quân Nguỵ Quyền. Như nhà phê bình Văn Học Hoài Thanh, khi viếng miền Nam, ông ta nói, về cơ bản bọn nGuỵ là xấu mà sao chúng làm thơ hay nhạc thậm chí văn của chúng quá hay. Không hiểu nổi.


Mình hay tò mò lý do Anh quốc một đảo nhỏ ở âu châu mà có thể chiếm đong khắp nới trên thế giới và tuyên bố mặt trời không bao giờ lặn tại Anh quốc. Trở thành một cường quốc bậc nhất ở thế kỷ 19.


Năm 1768, Thuyền trưởng Cook đã chất lên tàu HMS Endeavour 7.860 pound (khoảng 3.565 kg) dưa cải bắp muối (sauerkraut). Thủy thủ đoàn ban đầu từ chối ăn, nên ông chỉ phục vụ riêng cho các sĩ quan và bảo họ ăn một cách công khai trước mặt thủy thủ mỗi ngày, cho đến khi các thủy thủ cũng muốn ăn theo. Đáng chú ý là, không một ai trên tàu tử vong vì bệnh scurvy trong suốt chuyến đi kéo dài ba năm. Một bệnh thiếu sinh tố khi đi biển vì ăn toàn là đồ khô. 


Chuyến đi vòng quanh thế giới đầu tiên của thuyền trưởng Thomas Cook là một thành tựu phi thường, khi ông đã hoàn thành việc đi vòng quanh quả đất mà không mất một thủy thủ nào vì scurvy. Để ghi nhận phương pháp bảo vệ sức khỏe phi thường cho thủy thủ đoàn, Hội Hoàng gia London đã trao cho ông Huy chương Copley, một trong những vinh dự khoa học danh giá nhất nước Anh.


Giải pháp của thuyền trưởng Cook cho bệnh scurvy thực sự xuất sắc, vì đây từng là tai họa chết người đối với thủy thủ trên những chuyến đi dài trong nhiều thế kỷ. Một số ước tính cho rằng scurvy gây ra nhiều cái chết hơn cả giao tranh với kẻ thù, bão tố và tất cả các nguyên nhân khác cộng lại. Ai đi vượt biển chắc hiểu sự việc này. Thiếu vitamin C.


Phương pháp sáng tạo của thuyền trưởng Cook bao gồm bắp cải lên men và sự thấu hiểu sâu sắc về tâm lý con người.  Thực đơn hàng ngày điển hình trên tàu Endeavour gồm:

  • Bữa sáng: lúa mì luộc với đường
  • Bữa trưa: thịt bò muối hầm với rau củ
  • Bữa tối: súp kèm bánh quy tàu cứng đến mức phải dùng que sắt mới đập vỡ được.

Tàu chở một lượng lương thực khoảng 5.500 lít bia, 7.300 lít rượu mạnh, 16 tấn bánh mì, 2 tấn thịt bò muối, và hơn 3 tấn dưa cải bắp muối. Nên nhớ trong bia có chất dinh dưỡng nên khi người âu châu đi tàu di dân sang Mỹ, họ đem theo bia rất nhiều, vừa giải khát vừa có chất dinh dưỡng.


Thủy thủ tiêu thụ khoảng 5.000 calo mỗi ngày để đáp ứng nhu cầu thể lực khi vận hành một con tàu buồm thế kỷ 18. Thuyền trưởng Cook còn mang theo nước dùng di động từ nội tạng bò, 40 thùng malt, giấm, mù tạt và nước chanh cô đặc như các biện pháp bổ sung chống scurvy. Ông đang tiến hành một thí nghiệm dinh dưỡng có kiểm soát đầu tiên trong lịch sử hải quân, kéo dài ba năm và vượt qua 40.000 dặm đại dương.


Một chi tiết nổi bật trong câu chuyện này là “tâm lý dưa cải bắp”. Thuyền trưởng Cook nhận thấy thủy thủ Hà Lan ít bị scurvy hơn nhiều so với thủy thủ Anh, và ông chú ý họ mang theo thùng dưa cải bắp. Ông ra lệnh cho tàu mình làm theo, nhưng thủy thủ Anh hoàn toàn từ chối món ăn lạ ngoại quốc này. Thuyền trưởng Cook quyết định chỉ phục vụ cho sĩ quan và để họ ăn công khai trước mặt thủy thủ. Chỉ sau vài tuần, các thủy thủ bắt đầu đòi phần của mình. Thuyền trưởng Cook nhận ra rằng: những thủy thủ nghi ngờ món ăn lạ sẽ ăn ngay khi họ tin rằng người có địa vị cao hơn đang được hưởng thứ mà họ không có. Đó là cách đánh lừa thuỷ thủ để cứu mạng của họ.


Ngày nay khoa học chứng minh là thuyền trưởng Thomas Cook, đã sai khi nói ăn mấy đồ như sauerkraut này nọ. Học cho biết là nhờ mỗi lần cập bến, ông ta đã tiếp tế thức ăn tươi, trái cây cho thủy thủ vì bệnh scurvy xảy là vì thiếu sinh tố C. Do đó hải quân Anh quốc đều trang bị rất nhiều nước chanh để thuỷ thủ uống. Nhờ đó mà họ không còn thuỷ thủ chết nhiều khi đi biển. Ngày nay người ta cho biết sinh tố C là rất quan trọng như ở Đức quốc họ sử dụng truyền sinh tố C để trị bệnh ung thư. (Còn tiếp)


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 



Tại sao Hoa Kỳ giúp kẻ thù kiến thiết sau chiến tranh

 Hoa Kỳ giúp kẻ thù kiến thiết sau đệ nhị thế chiến


Hồi năm 11B, học lịch sử Hoa Kỳ thì thấy sau thế chiến thứ 2 có chương trình Marshall để giúp tái thiết kẻ thù cũ như Đức quốc và Nhật Bản nên ngạc nhiên. Thường khi người đánh bại kẻ thù trong chiến tranh thì họ tàn sát hết, bắt làm nô lệ, lấy vợ con kẻ thù làm thê thiếp, cướp đất tài sản. Lại nghe nói đến ông ngoại trưởng mỹ, từng tham chiến đột phá tư duy ra chương trình này khiến thiên hạ lấy tên cúng cơm của ông để đặt tên cho chương trình này “Chương trình Marshall”.

Bản đồ cho thấy Hà Nội đang cho xây dựng các căn cứ quân sự tại vùng Spratlys, Trường Sa. 


Sau này, họ tiếp tục chính sách này bằng cách giúp đỡ Trung Cộng nhưng ai ngờ khi mấy anh ba tàu mạnh lên thì quay lại tìm cách hạ anh mỹ thay vì cảm ơn như người Nhật và người đức khiến nay phải đối đầu khá nghiêm trọng. Có khả năng trong tương lai sẽ có chiến tranh tại á châu. Điển hình Nhật Bản nay đã bắt đầu thành lập quân đội, tranh bị vũ khí. Nếu xem bản đồ sẽ thấy Trung Cộng bị bao vây bởi các đảo mà có sự hiện diện của quân đội Hoa Kỳ như Nhật Bản, Đài Loan, Nam Hàn và Phi Luật Tân. Sáng nay đọc một bài về Hà Nội cho xây dựng mấy căn cứ quân sự trên biển đông.


Sau thế chiến thứ 2, ai cũng nghe đến hai quả bom nguyên tử được thả tại xứ Phù Tang nên chả thằng nào dám lôi thôi. Nếu Hoa Kỳ muốn chiếm các nước làm thuộc địa thì chả thằng nào cản ngăn. Có lẻ Hoa Kỳ hiểu vấn đề là chiếm một thuộc địa, cầm giữ rất khó như Anh quốc và Pháp quốc vì hao tốn lực lượng tiền bạc nên không muốn dính dáng đến sự việc. Cũng có thể chủ nghĩa tư bản gây ảnh hưởng không nên tạo dựng kẻ thù cho mình. Cứ làm ăn với kẻ đối đầu với ta như bán lúa gạo cho Liên Xô trong thời gian chiến tranh lạnh. Cho nên mình ngạc nhiên sau 9/11 thì Hoa Kỳ đem quân đi đánh Iraq, Á Phũ Hán,.. rốt cuộc ôm đầu máu, bỏ súng đạn chạy lấy người dưới thời bác Biden.


Hoa Kỳ thực sự đã giúp xây dựng lại các quốc gia mà họ vừa đánh bại. Họ giúp xây dựng lại Tây Âu, giúp xây dựng lại Nhật Bản. Đây là hành vi rất khác thường, gần như chưa từng có tiền lệ của một đế chế. Kế hoạch Marshall không phải là viện trợ nước ngoài mà là hành động kiềm chế triệt để nhất như có bác Sam trong ngày vui đại thắng mà bất kỳ siêu cường nào từng thực hiện. Nhớ thế chiến thứ 1 chấm dứt, người đức phải nai lưng ra trả nợ chiến tranh khiến lạm phát và lòng căm thù các nước đã đánh bại họ nên khi một tên lên tiếng, biến căm thù thành một hành động cách mạng, cả đám dân của xứ ăn khoai tây nổi dậy đi đánh chiếm các nước âu châu, chiếm đất của cải, kho báu của xứ sở tại. Tương tự khi hoàng đế Napoleon đệ III thất trận, dân chúng Pháp quốc banh ta lông, trả nợ mệt thở. Vua dắt quân đi đánh giặc bị thua, không cần hỏi dân tình có đồng ý hay không, phải nai lưng ra đóng thuế để làm súng đạn rồi thua thì trả nợ còn vua thì chạy mất dép.


Nước Mỹ biến kẻ thù thành đồng minh, biến đống đổ nát thành nền kinh tế và biến sự đầu hàng thành quan hệ đối tác về kinh tế và kinh tế. Tây Đức từ tro tàn trở thành động lực kinh tế của châu Âu chỉ trong một thế hệ. Nhật Bản từ sự đầu hàng vô điều kiện trở thành nền kinh tế lớn thứ ba thế giới. Vài năm sau chiến tranh, Mỹ đã cho máy bay chở thức ăn vào Tây Bá Linh, một thành phố nằm ngay trung tâm của quốc gia vừa cố gắng hủy diệt họ. Đó không phải là chính sách huỷ diệt kẻ thù và giúp đỡ kẻ thù vực dậy cùng đồng hành về tương lai. Tổng thống JF Kennedy đứng trước công chúng người đức, tuyên bố :” Ich bin ein Berliner”.


Sau năm 1975, người Mỹ qua chính phủ Jimmy Carter muốn cộng tác với Hà Nội để xây dựng, tái thiết lại Việt Nam nhưng có lẻ Hà Nội đang say men chiến thắng nên phải đợi đến 20 năm sau mới năn nỉ qua các nổ lực của ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch, mới được Hoa Kỳ bang giao lại, lỡ một cơ hội bằng vàng để tái thiết xứ xở sau 20 năm chiến tranh.


Đó là một nền văn minh quyết định mình là gì vào đúng khoảnh khắc họ có quyền lực để trở thành bất cứ một siêu cường. Khi mình đi học ở Paris thì người Pháp cũng như đa số người âu châu, những nơi mình từng viếng như Tây Đức, Áo, Tây Ban Nha, Ý Đại Lợi, Hy Lạp,… thời sinh viên giang hồ bằng cách quá giang xe. Dân âu châu đều cho rằng Mỹ là kẻ phản diện của lịch sử. Vào đại học cũng nghe,… đến nổi có lần đi chơi với cô bạn người Mỹ, mình phải dặn cô ta tự xưng là người Tô Cách Lan vì tóc cô ta màu đỏ, đừng nói đến người Mỹ là dân tình chửi nát nước. Khi mình nói là người Việt thì họ reo mừng vì Hà Nội đã đánh đuổi được quân đội mỹ. Người Tây Ban Nha gọi người Việt là Dynamitas thay vì Vietnamitas.


Luôn luôn người Pháp, ý, Hy Lạp ,… đều kêu Mỹ đã làm những điều xấu như cuốn sách “Ugly American” mà bộ ngoại giao mỹ dưới thời tổng thống JFK đều bắt các công chức sắp nhận nhiệm sở tại hải ngoại phải đọc. Tất nhiên chính phủ Mỹ đã làm những điều xấu, có thể nói rất nhiều điều xấu như đối với Việt Nam Cộng Hoà, và các nước vùng Nam Mỹ nhưng người ta cần nhìn vào toàn bộ các chương trình đối ngoại của Hoa Kỳ. Mọi quốc gia trên Trái Đất đều có những chương đen tối như Anh quốc với Ấn Độ, Pháp với Algerie và Đông-Dương, Hoà-Lan với Nam Dương,… hay Tây Ban Nha với các nước ở Trung Mỹ.


Sự khác biệt nằm ở việc một quốc gia làm gì khi không ai có thể ngăn cản họ, điển hình như biệt kích mỹ nhảy vào Venezuela bắt sống hai vợ chồng tổng thống xứ này rồi bay ra. Khi không ai có thể ngăn cản Mỹ, họ đã cho kẻ thù ăn và xây dựng lại thành phố, đất nước của họ. 


Chúng ta đang sống và đang tiến gần đến một khoảnh khắc, thời điểm giống hệt năm 1945 theo những tình huống mà chưa ai thấu hiểu triệt để và tiên đoán tương lai sẽ đi về đâu. Chiến tranh ở Ukraina và ở Trung Đông và tương lai có thể xảy ra tại Á Châu khi chúng ta thấy Nga tuyên bố về các đảo Sakharins mà họ chiếm của Nhật Bản và Nhật Bản đang gây gắt trang bị hoá quân sự của họ rồi kêu Trung Cộng đụng đến Đài Loan là đụng đến quyền lợi của Nhật Bản. Nên nhớ trước 1945, đào Đài Loan là thuộc địa của Nhật Bản. Mình có quen một ông giáo sư địa học gốc Đài Loan, ông ta cho biết từ bé là học tiếng nhật, xem đài truyền hình Nhật Bản. Ông ta không xem đài truyền hình Đài Loan nói tiếng quan thoại của người Tàu áp đặt lên Đài Loan khi Mao Trạch Đông đánh Tưởng Giới Thạch chạy đến chiếm đảo này.


Trí tuệ nhân tạo (AI) sẽ trao cho một nhóm nhỏ người lợi thế quyền lực lớn đến mức khiến độc quyền bom hạt nhân trông thật nhỏ bé. Chúng ta thấy mấy ông tỷ phú bỏ tiền ra thật nhiều để mong dành thắng lợi trong cuộc chiến này trong khi đó Trung Cộng với sự lãnh đạo của đảng Trung Cộng đã đi trước khá nhiều so với tây phương.


30 năm qua, Hoa Kỳ lấy tiền đi bỏ bom chiếm đóng các xứ thì Trung Cộng trong im lặng đã xây dựng xứ họ một cách ngoạn mục, khiến nhiều người Mỹ đi du lịch xứ này về phải ngạc nhiên. Chắc mình sẽ đi lại Trung Cộng một chuyến nữa vì có ghé thăm xứ này năm 2009, một năm sau thế vận hội. Tương tự khi mình viếng Hiroshima, nơi bị một quả bom nguyên tử, hình ảnh tan thương sau trái bom so với thành phố Detroit, phồn vinh, nơi tạo ra giấc mơ Hoa Kỳ của các nhân công trên thế giới. Nay thành phố này được tái thiết lại rất đẹp trong khi thành phố Detroit thì Chán Mớ Đời.


Nếu ai đó sẽ nắm giữ loại quyền lực có thể chiếm đóng, quyết định số phận cảu thế giới, chúng ta muốn nó thuộc về ai? Quốc gia đã chinh phục khi họ có thể sát hại, tàn sát kẻ thua cuộc? Hay quốc gia đã xây dựng lại khi họ không cần phải làm vậy như Hoa Kỳ sau đệ nhị thế chiến. Mọi liên minh, mọi tuyến thương mại, mọi nền kinh tế. Hàng tỷ người thoát khỏi đói nghèo như chủ nghĩa tư bản. Nếu Trung Cộng không theo chủ nghĩa tư bản để xây dựng lại đất nước họ bị các cuộc cách mạng văn hoá long trời lỡ đất thì người Tàu vẫn tiếp tục đói như khi Mao sến sáng còn sống. Hay nếu Hoa Kỳ không bỏ lệnh cấm vận, đầu tư vào Việt Nam thì chắc ngày nay, người Việt bỏ nước ra đi hết như sau 75. Tất cả đều bắt nguồn từ một hành động kiềm chế chưa từng xảy ra trước đó và không có gì chắc chắn nó sẽ lặp lại. Điều quan trọng mà nước Mỹ từng làm không phải là chế tạo bom nguyên tử mà là những gì họ làm sau thế chiến thứ 2. Đó là chương trình tái thiết Marshall.


Ngày nay, chúng ta cứ nghe truyền thông nói về cuộc đua trí tuệ nhân tạo, sẽ giúp ai đó đi trước sẽ không chế toàn thế giới về kinh tế cũng như quân sự. Hoa Kỳ đang chuyển lực lượng hải quân và quân đội của họ về phiá á châu. Nhật Bản tuyên bố tái thiết bị quân đội. Mình có xem vài phim tài liệu, thấy họ xây hầm hố, chiến đấu nhằm để chống quân đội của Trung Cộng xâm chiếm. Một hòn đảo nhỏ mà Nhật Bản có rất nhiều hòn đảo rãi rác từ Nhật Bản đến Okinawa. Thế chiến thứ 3 chắc sẽ khơi mào tại á châu. Cuộc chiến giữa người tây phương, đúng hơn da trắng và người á châu. Mình đoán người âu châu mong sao cuộc chiến ở á châu bùng nổ để họ có thể theo kịp đà phát triển của trí tuệ nhân tạo.


Hàng ngày trên mạng xã hội không biết bao nhiêu tin tức giả để tuyên truyền có lợi cho các nước từ người Mỹ, người Tàu, người Nga, Ukraina hay âu châu nên không biết đâu mà lần. 


Sau Chiến tranh Thế giới thứ II (1939–1945), châu Âu hoang tàn nằm trong đống đổ nát: hàng chục triệu người chết, cơ sở hạ tầng bị phá hủy nặng nề (đường sá, cầu cống, nhà máy, cảng biển, nông nghiệp). Nạn đói, lạm phát phi mã, thất nghiệp lan rộng. Mình nghe mấy người Pháp lớn tuổi kể lại sau thế chiến thứ 2. Kinh tế Tây Âu gần như tê liệt năm 1946–1947. Liên Xô (Liên bang Xô viết) đang mở rộng ảnh hưởng mạnh mẽ ở Đông Âu, cài đặt các chính quyền cộng sản. Các nước chư hầu mà lộn xộn, là xe tăng chạy vào tự nhiên như người liên xô. Năm 1956 ở Varsovie và năm 1968 với mùa xuân tại Prague.


Mỹ lúc này là siêu cường duy nhất còn lại với nền kinh tế mạnh mẽ và độc quyền vũ khí hạt nhân. Thay vì khai thác lợi thế để thống trị hoặc đòi bồi thường chiến tranh khổng lồ như các đế chế trước đây, Mỹ chọn con đường khác.


Điển hình đế chế Liên Xô, chiếm đất như các đế chế trước đây, chiếm đóng tạo đựng một nền cai trị tập trung ở trung ương, thêm áp lực các chư hầu nhưng rồi cuối cùng bị phá sản năm 1990 như các đế chế trong lịch sử loài người khi họ bành trướng quá lớn ngoài khả năng kiểm soát. Đi viếng vùng Trung-Á mới khám phá ra đế chế liên-sô khi xưa quá rộng lớn dù mình chưa đến tây bá lợi á.


Kế hoạch Marshall được ngoại trưởng George C. Marshall công bố ngày 5 tháng 6 năm 1947 tại Đại học Harvard. Chương trình chính thức mang tên European Recovery Program (ERP), hoạt động từ 1948 đến 1952. Khoảng 13,3 tỷ USD (tương đương khoảng 140–170 tỷ USD theo giá trị hiện nay, tùy cách tính lạm phát). 16 quốc gia Tây Âu (Anh, Pháp, Tây Đức, Ý, Hoà Lan, Đan Mạch, Na Uy, Thụy Điển, Bỉ, Áo, Thụy Sĩ, Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ…).


Các nước Đông Âu và Liên Xô (Stalin từ chối và cấm các nước chư hầu tham gia, chỉ có Tito có thể đối đầu dù Stalin gửi 5 lần người đến ám sát ông Tito). Chủ yếu là viện trợ không hoàn lại (grants), một phần là vay ưu đãi. Mỹ cung cấp lương thực, nguyên liệu, máy móc, công nghệ và tư vấn quản lý. Mỹ không chỉ đưa tiền mà yêu cầu các nước châu Âu phối hợp lập kế hoạch chung, đây là bước khởi đầu cho tinh thần hợp tác châu Âu sau này. Nếu Stalin đồng ý nhận tiền tái thiết lại Liên Sô, có lẻ chúng ta đã không có những cuộc chiến uỷ nhiệm của hai bên như Triều Tiên, Việt Nam và Angola,…


Chương trình có mục đích ngăn chặn nạn đói, khôi phục sản xuất, ổn định xã hội, ngăn chặn sự lan rộng của chủ nghĩa cộng sản với chính sách Containment của tổng thống Truman. Kinh tế yếu kém dễ dẫn đến bất ổn và cách mạng tỏng khi tạo thị trường tiêu thụ hàng hóa Mỹ, thúc đẩy xuất cảng và duy trì việc làm trong nước.


Người ta thấy sản lượng công nghiệp Tây Âu năm 1951 đã vượt mức trước chiến tranh 35–40%. Nông nghiệp phục hồi nhanh, lạm phát được kiểm soát. Tây Đức được xem là Kỳ tích kinh tế Tây Đức ( Wirtschaftswunder) và Nhật Bản trở thành động lực tăng trưởng. Đến năm 1952, hầu hết châu Tây Âu đã tự túc tự cường được nhưng vì chế độ dân chủ nên có đảng cộng sản như ở pháp 25% cử tri pháp thuộc đảng cộng sản trong khi ở Ý Đại Lợi là đến 30% nên cuộc chiến chốgn mỹ luôn luôn tiếp diễn đến nay.


Về mặt chính trị, chương trình đã giúp củng cố các chính quyền dân chủ Tây Âu. Dẫn đến sự ra đời của NATO (1949), liên minh quân sự Mỹ - châu Âu. Tạo nền tảng cho sự hợp tác châu Âu (từ Cộng đồng Than Thép ECSC 1951 → Liên minh châu Âu sau này).


Về mặt xã hội chương trình đã giảm nguy cơ nội chiến, ổn định chính trị, góp phần vào “Thời kỳ Vàng son” (Golden Age) của chủ nghĩa tư bản Tây Âu những năm 1950–1970. Mình có kể về đệ ngũ cộng hoà do tổng thống De Gaulle thành lập đã tái thiết Pháp quốc thành một cường quốc tỏng vòng 20 năm. Nền kinh tế của Tây Âu phát triển mạnh đến nổi họ không có đủ nhân công nên phải qua các thuộc địa cũ ở phi châu để mướn người đem về pháp trong ngành sản xuất. Nếu không có chương trình này thì dân âu châu bỏ xứ ra đi rất nhiều như các thế hệ trước kia, đến Hoa Kỳ, hay các vùng Nam Mỹ. Ngày nay họ lãnh hậu quả về các thế hệ của người di dân từ phi châu qua.


Mình nghĩ nếu các nước giàu mạnh không muốn di dân lậu nữa thì bỏ tiền đầu tư tại các nước nghèo giúp họ có công ăn việc làm, không cần phải bỏ nước ra đi tìm đường cứu nước.


Khi mình ở âu châu thì phải công nhận dân tình ghét người Mỹ nhưng thích bận áo quần mỹ và uống coca cola. Các trí thức thiên tả cho rằng đây là chương trình, công cụ cho chủ nghĩa tân thực dân (neo-colonialism), giúp Mỹ kiểm soát kinh tế châu Âu và mở rộng thị trường. Trên thực tế, hàng của Hoa Kỳ nhập vào bị đánh thuế cao trong khi để giúp Tây Âu phát triển nên hàng của họ được nhập cảng vào Hoa Kỳ gần như không có thuế quan. Một phần viện trợ gắn với điều kiện chính trị (chống cộng) và không giúp được Đông Âu, góp phần củng cố sự chia cắt châu Âu (Bức màn sắt). Họ quên là chính Liên Xô đã gây ra nhưng cứ chửi hoài khiến thiên hạ sẽ tin.


Tuy nhiên, đa số học giả công nhận rằng quy mô và tính nhân văn của kế hoạch Marshall là khác biệt căn bản so với cách các đế chế trước đây trong lịch sử hành xử. Người Mỹ chứng minh rằng sức mạnh không chỉ là bom đạn mà còn là khả năng xây dựng và tạo liên minh. Có lẻ vì lẻ đó họ không bỏ bom hết các hạ tầng cơ sở của Ba tư. Chi phí ban đầu cao nhưng mang lại lợi ích chiến lược khổng lồ (NATO, EU, thị trường tiêu dùng, đồng minh đáng tin cậy trong Chiến tranh Lạnh).


Trong thời đại AI và công nghệ, câu hỏi về “ai nắm quyền lực tuyệt đối” càng quan trọng. Kế hoạch Marshall là minh chứng rằng một nền văn minh có thể chọn xây dựng thay vì chinh phục. Tóm lại, kế hoạch Marshall không chỉ là một chương trình viện trợ, là một tuyên ngôn văn minh. Nó cho thấy nước Mỹ thời kỳ đó đã quyết định sử dụng quyền lực tối thượng của mình theo cách nhân văn và chiến lược nhất trong lịch sử loài người.


Nghe nói ông Đỗ Mười sau 75, tuyên bố sẽ lấy nhà bọn nguỵ quân nguỵ quyền, lấy vợ của chúng,… bỏ tù trên 3 triệu người thuộc chế độ cũ (theo lời tuyên bố của ông Phạm Văn Đồng trả lời Paris Match) đó là hình ảnh chinh phục của kẻ thắng trận từ xưa đến giờ. Nhưng chủ nghĩa tư bản đã nảy ra ý tưởng hợp tác, cùng giàu sang phú quý. Để chúng đói thì tiền đâu chúng mua đồ của mình sản suất.


Câu hỏi mình đặt ra ngày nay là chính phủ mỹ đã thay đổi tên của bộ quốc phòng thành Bộ Chiến Tranh. Hoa Kỳ cảm thấy đang chạy đua với cuộc chiến AI, sẽ quyết định số phận của xứ này trong vài chục năm tới. Khi trí tuệ nhân tạo có thể đào tạo huấn luyện những người tin tưởng vào lãnh tụ của mình. Chúng ta thấy rõ ngày nay, các video hay bài báo bựa ra để tìm cách phân chia gia đình, người Mỹ, người Pháp,…


2 năm nữa ông Trump về vườn thì họ sẽ cài đặt thêm một người khác để chúng ta không chú ý vào những điểm thay đổi khác của cuộc sống. Lúc đó sẽ không có chiêu bài Mà Gà mà là Ma Xó hay Ma cà rồng chi đó và bác Newsom sẽ trở thành vị lãnh tụ của đảng Dân Chủ và con người tiếp tục tin vào các xảo ngôn của lãnh tụ của họ, lại tiếp tục chửi bới nhau cho đời vui hơn trước. Chán Mớ Đời 

Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn