Hùm Xám, một huyền thoại Đà Lạt

 Hùm Xám, một huyền thoại Đà Lạt 


Trong cuốn sách “Gone Native”, ông Al Cornett, cựu lính biệt kích mỹ, kể lại thời gian ông ta làm cố vấn cho đại đội trinh sát 302 của Đà Lạt Tuyên Đức. Ông ta kể là thay vì cố vấn, huấn luyện lính 302, ông ta phải học rất nhiều kinh nghiệm từ các người lính trinh sát 302, nhất là từ vị chỉ huy đại đội này mà ông ta gọi “Grey Tiger” (Hùm Xám), thiếu tá Lê Xuân Phong. Ông ta kể thiếu tá Phong được truy tặng 50 huy chương của quân lực Việt Nam Cộng Hoà và 3 huy chương của quân đội Hoa Kỳ. 


Khi mình còn ở Đà Lạt thì có nghe đến đại uý Phong, đại đội trưởng 302 nhưng không biết ông ta họ. Sau này, mới biết là ông ta được lên chức Thiếu tá. Nếu không có vấn đề quân kỹ thì có lẻ ông ta đã được lên cấp cao hơn. Lý do là có lần tổng thống Nguyễn Văn Thiệu lên Đà Lạt, dự lễ mãn khoá của trường Võ Bị Quốc Gia, đại đội 302 cắm ở Đơn Dương, được lệnh không được vào thành phố. Có lẻ cấp trên sợ lộn xộn tỏng thị xã. Hôm đó, đang ở Đơn Dương thì thấy chiếc xe đò chở anh bạn đi phép về. Anh ta rủ đi ăn uống gặp gỡ nhau vì đời lính chiến không biết nay mai. Nên nghĩ lên Chi Lăng chắc được vì không phải trong Đà Lạt. Bà chủ tiệm ăn kêu hết rượu nên chuẩn uý Phúc mới đề nghị đi mua rượu trong PX của mỹ gần đó. Ông thần bận đồ lếch xếch, không đeo lon gì cả nên gặp quân cảnh hỏi giấy tờ, trả lời lớ quớ sao bị quân cảnh đánh. 


Ông thần chạy về tiệm ăn kêu bị đánh nên cả đám chạy lại, có mấy người lính của ông ta leo lên xe lấy súng ống thì thấy trong kia, quân cảnh đang gây sự với thiếu tá Phong nên họ lấy đại liên ria một tràn khiến quân cảnh, thiếu tá Phong, chuẩn uý Phúc bò xuống đất. Nghe đạn bắn nên thiết giáp trong trường Võ Bị, chạy ra nghe rần rần thì cả đám lên xe chạy về Đơn Dương. Vừa về tới căn cứ thì ông trung tá trong trường Võ Bị gọi điện thoại hỏi chuẩn uý Phúc. Cuối cùng chuẩn uý Phúc nhận lãnh hết trách nhiệm, đi tù 5 năm, nay không biết trôi dạt về đâu. Thiếu tá Phong cho biết là muốn tìm chuẩn uý Phúc. Còn thiếu tá Phong thì bị kỹ luật và không được lên lon 1 hay 2 năm gì đó.

Đi câu cá ở Florida


Trước ngày Đà Lạt bị bỏ ngõ, tiểu đoàn 204 đã đánh lấy lại Di Linh giúp người dân Đà Lạt có thể di tản về Sàigòn. Thiếu tá Phong kể tuy chiếm lại nhưng tổn thất khá nhiều. Sau đó, bắt được một thượng tá Việt Cộng và xe Molotova, chở lên Đà Lạt để xe Molotova với ông thượng tá Việt Cộng ở chỗ tiệm Hạnh Tâm, gần bờ hồ để trấn an dân chúng Đà Lạt. Nhưng sau đó đi học với tư lệnh thì ra hiệu cố chạy về Sàigòn nên tan hàng.


Sau 75, ông ta đi tù ở ngoài bắc. Trốn trại chạy qua được biên giới Lào nhưng dân lào đi báo cho bộ đội đến làng bắt lại. Hai người bị giải về Việt Nam, nói là chuyến này về cũng chết nên khi đi qua cầu trên sông hay suối gì đó, nhảy xuống sông dù bị trói tay nhưng xui cái là mùa khô nên nước suối hay sông cạn nên không chết đuối. Cán bộ chạy xuống còng đầu lại, đánh ná thở đem về nhốt biệt giam. Sau lại trốn trại một lần nữa vào mùa mưa, nước dâng lên cao nên bơi qua sông, leo lên đồi tưởng thoát. Ai ngờ nước dâng lên thì thú rừng cũng chạy lên cao, và dân quân trong vùng cũng lên trên cao để săn thú rừng. Thấy mấy người vượt trại mệt quá nằm thở, đói, bắt đánh mệt thở dẫn về trại. Ông ta kể là có gặp ông cựu tỉnh trưởng Đà Lạt Tuyên Đức, đại tá tên Nguyễn Bá Thìn tự Long. Khi thiếu tá Phong về nhậm chức đại đội trưởng 302 năm 1969 thì có thời gian làm việc với đại tá Nguyễn Bá Thìn, sau này với đại tá Nguyễn Hợp Đoàn. Sau này bên Mỹ, có gặp lại đại tá Nguyễn Hợp Đoàn, đại tá muốn giúp anh ta mở tiệm bán bàn ghế nhưng anh ta không rành buôn bán nên từ chối.


Sau này được thả sau 10 năm tù cải tạo, về Bến Tre gặp cò Giao xưa ở Đà Lạt, kêu đi chỗ khác tìm đường vượt biên, không nên đi từ Bến Tre, quê hương đồng khởi. Cuối cùng vượt biển thoát, được tàu Cap Anamour của Đức quốc vớt đưa về cảng Hamburg, Đức quốc. Mình có xem một phim tài liệu của đài truyền hình Đức quốc thực hiện 20 năm về con tàu Cap Anamour.


Tại đây, ông ta gặp lại 2 ông cựu cố vấn chỏ đại đội trinh sát 302; Al Cornett, Beckett đóng quân tại Đức quốc, xem truyền hình và nhận ra thiếu tá Phong nên lên tàu đầu tiên để đón người bạn đồng ngủ, cùng sinh ra tử ở Đà Lạt trước 75. Truyền hình đức có chiếu vụ này.



Khi mình hỏi thì ông ta nói đã mất quê hương, không còn gì. Chân nhân bất lộ tướng. Thường mình thấy mấy ông sĩ quan viết hồi ký rất nhiều. Có lẻ ông ta chỉ kể với mình hay vài người thân, 2 vụ trốn trại cải tạo và bị bắt lại, bị quản giáo đánh mệt thở . Mình có kể rồi, ai tò mò thì đọc đường dẫn.


https://www.muctimsonden.com/2021/06/hum-xam-alat-vuot-nguc.html


Khi ông ta qua đời, mình ngạc nhiên khi thấy cựu binh sĩ dưới quyền ông ta ở Việt Nam, đưa di ảnh vào chùa, dù ông ta đạo Thiên Chúa, đứng nghiêm chỉnh chào vị chỉ huy của mình. Khiến mình cảm động. Sau 50 năm, lính của ông ta vẫn kính trọng người chỉ huy mình khi xưa. Mình có đọc nhiều bài viết về vị chỉ huy của mình như vị sĩ quan tuỳ viên của tướng Nguyễn Văn Toàn, tư lệnh vùng 2 chiến thuật. Ông ta chửi kêu ông này dâm đảng, tham nhũng,… ông Nguyễn Văn Thiệu sợ bị các tướng khác xử nên phải cần nhiều tướng trung thành nên không dám xử họ về tội tham nhũng. Gây bất mãn trong quân đội cũng như dân chúng.



Vụ tướng Toàn thì thiếu tá Phong có kể là có lần đi trinh sát ở đâu vùng gần Quảng Đức, lính anh ta báo cáo có một chiếc xe Jeep của quân đội Việt Nam Cộng Hoà, chạy vào vùng Việt Cộng đóng nên anh ta kêu theo dõi để xem có phải nằm vùng vào báo cáo. Hoá ra một thiếu tá do tướng Nguyễn Văn Toàn cử đi gặp Việt Cộng để cúng tiền đô-la để Việt Cộng cho phép người của ông ta vào rừng chặt cây, xuất cảng. Đà Lạt dạo đó có nhiều đại gia chặt cây rừng bán cho ngoại quốc nên mình đoán mấy ông đại gia này khi xưa chắc cũng phải đóng thuế cho Việt Cộng.


Khi theo dõi thì thấy một thiếu tá đưa cái sacoche tiền cho Việt Cộng thì Việt Cộng khám phá ra có lính 302 đang theo dõi và nổ súng. Lính 302 bắn chết Việt Cộng và thiếu tá Việt Nam Cộng Hoà. Rồi lấy cái sacoche về, thấy trong đó có $2,000. Ông Phong đem tiền thưởng cho các lính trong đại đội. Ngày hôm sau, trung tướng Toàn bay trực thăng đi kiếm thiếu Tá Phong, lính 302 kêu thiếu tá Phong đang đi hành quân, ông ta hỏi địa điểm để đáp xuống. Ông đáp xuống thì có sĩ quan 302 tường trình cuộc hành quân nhưng tướng Toàn bất chấp chỉ muốn tìm thiếu tá Phong. Thiếu tá Phong kể là ông ta ngồi ở trong sau bức tường nghe ông tướng Toàn la hét khiến ông ta nổi nóng, muốn chạy bắn chết ông tướng Toàn rồi vượt tuyến theo Việt Cộng, nhưng may sao ông Tướng bỏ đi.



 À cũng nói thêm, bố ruột ông ta người gốc Bình Định, vào Đà Lạt rồi đi theo Việt Minh bị pháp bắn chết. Cho nên ngày nay ở nghĩa trang Liệt sĩ ở Cam Ly, Việt Cộng có làm một ngôi mộ “giả” cho bố ông ta nên mỗi lần về Đà Lạt, ông ta đều đến đây thắp hương. Thật ra bố mẹ ông ta được chôn tại Đơn Dương, quê quán khi vào Đà Lạt. Sau này, mẹ ông ta tái giá với một ông khác đã giúp đỡ anh ông ta theo Việt mInh, bị pháp bắt thoát vòng lao lý. Ông bố dượng là người được ông Al Cornett kể trong cuốn sách “Gone Native”, ông bố dượng làm hướng dẫn viên săn bắn nên rất rành theo vết chân thú rừng, nhờ đó mà thiếu tá Phong học nghề đi rừng từ bé.


Nhưng trung tướng Toàn chưa tha nên gặp ông bác sĩ mỗ ruột thừa cho lính 302 nên ông ta kêu tỉnh trưởng Tuyên Đức là để mỗ ruột thừa, thế là thoát. Cũng nhờ mỗ ruột thừa trước 75 nên khi đi tù không bị bệnh trĩ như đa số tù ở trại cải tạo Việt Cộng. Sau vụ đó, ông Thiệu kêu ông Toàn về vùng 3 hay vùng 4 chiến thuật. Đọc bài viết kể tội ông tướng này bởi vị sĩ quan tuỳ viên khi xưa thấy Chán Mớ Đời. Có lẻ vì vậy lính khi xưa Chán Mớ Đời nên có lẻ Việt Nam Cộng Hoà thua là vì vậy.


Thường mình hay nghe sĩ quan mỹ chê lính Việt Nam Cộng Hoà nhưng khi đọc mấy bài báo anh ngữ kể về thiếu tá Phong, thì đa số các sĩ quan mỹ rất phục thiếu tá Phong. Điển hình khi đi trinh sát, thường người Mỹ hay kêu trực thăng đáp xuống hay đậu trên cao rồi cho biệt kích nhảy xuống gần mật khu của Việt Cộng. Thường là bị lộ vì Việt Cộng họ cũng cảnh giác và đề phòng như biệt kích Nguyễn Văn Cư, người Quảng Nam kể. Ông ta cho biết là phi công rất thích các hố bom B52 nên hay đáp xuống để thả biệt kích nên có lần vừa đáp xuống, ông ta vừa nhảy ra thì Việt Cộng núp trên cây, bắn xối xả khiến đồng đội chết, chỉ có mình ông sống sót và đi bộ 21 ngày trong rừng già đến mục tiêu để được máy bay bốc về. Mình có kể trên bờ-lốc.


Người Mỹ kể thiếu tá Phong không cho trực thăng đáp gần mục tiêu thám thính mà rất xa, mất 7 ngày đi bộ, chớ nội trực thăng bay thấp lè tè là đủ báo cho Việt Cộng lạy ông con ở bụi này, cho người đi tìm. Do đó đưa đến sự bất ngờ cho việc trinh sát. Có lần đi trinh sát với quân khuyển, bắt được một cô Việt Cộng, hỏi biết chỗ Việt Cộng cất súng đạn, kho đạn thì cô này cho biết là biết nên kêu dẫn đi. Đi lâu lâu thì thấy con chó đánh hơi lạ nên toán trinh sát theo bài bản nhảy qua nhảy lại để phòng ngự. Cuối cùng khám phá ra là cô Việt Cộng, sợ quá đại tiện trong người nên con chó thè lưỡi hoài. Chán Mớ Đời 


Hình như cô này là người cầm tiền đô la. Đâu $5,000 nên có lấy đem về chia cho binh sĩ. Mình có kể vụ này rồi. Việt Cộng có đổi tiền Mỹ kim đem vào Nam, đưa cho các người kinh tài của họ để mua gạo và thực phẩm. Lính thì đi lùng tiêu diệt Việt Cộng nhưng nhiều người nằm vùng hay tham tiền, tham nhũng nên lấy tiền của Việt Cộng để bán gạo và thực phẩm cho họ. Điển hình là tiệm Bình Lợi ở dưới chợ, kinh tài cho Việt Cộng, nghe bà chủ kể là trước 75, có đi Thái Lan gặp bà Nguyễn Thị Bình để nhận chỉ thị. Ông bồ của bà chủ tiệm Bình Lợi đi tập kết ngoài bắc với ông Lê Xuân Ái, ở dốc Nhà Làng nên có lẻ được Việt Cộng móc nối. Lâu lâu ở ngoài chợ kêu là Việt Cộng bắt xe hàng lấy hết sạch đồ ăn nên giá ngoại chợ lại lên. Đúng hơn là người miền nam nuôi Việt Cộng để họ đánh sập miền Nam, rồi khiến họ vượt biên, cha chồng đi cải tạo mút mùa lệ thuỷ.


Thiếu tá Phong qua đời hồi đầu năm nhưng mình thấy rất nhiều người gốc Đà Lạt xưa lên tiếng tốt về ông ta nhất là cựu binh sĩ của ông ta. Thậm chí những người lính có nghe tên thiếu tá Phong Đà Lạt, con Hùm Xám đều lên tiếng, cho đó là huyền thoại của một người lính Việt Nam Cộng Hoà. 


Có lẻ mình cảm động nhất khi nhận được tin nhắn con dâu, người Pháp của ông ta bên pHáp. Cô ta cho biết là chồng cô ta là con của thiếu tá Phong. Lý do cô ta liên lạc vì thấy mình đăng bài có tấm ảnh của bố chồng. Tấm ảnh đó được trân trọng treo ở phòng khách nhà cô ta. Hỏi ra mới biết là con thiếu tá Phong sinh năm 1975, đâu 1 tháng rồi chạy loạn với mẹ qua Pháp. Chỉ có gặp mặt thiếu tá Phong một lần khi vượt biển được đưa đến Đức quốc. Sau này, chắc có gặp lại vài lần nên thèm khát tin tức về thiếu tá Phong, người cha mà anh ta không biết nhiều. Mình nghĩ đa số các người cha miền nam đều lâm vào trường hợp này.


Khi xưa ông cụ mình đi lính, rồi sau này làm việc ở Ban Mê Thuột nên tuổi thơ mình ít biết ông cụ. Em mình lớn lên thì ông cụ ở tù cải tạo nên cũng không biết nhiều về bố. Khi ông cụ trở về thì đa số đã trưởng thành, lập gia đình. Mình nghĩ phía bộ đội cũng tương tự. Mình có ông chú ruột đi bộ đội, bị B52 dập chết ở Trường Sơn, có cô con gái ở quê, lớn lên cũng chả biết gì về bố ngoài cái bằng liệt sĩ treo ở nhà. Chán Mớ Đời 


Hùm Xám, một huyền thoại Đà Lạt vừa ra đi khiến nhiều người mến tiếc, nhất là người Đà Lạt xưa. Nếu không có đại đội 302 bảo vệ an ninh thì có lẻ dân thị xã ăn đạn pháo kích của Việt Cộng hàng đêm. Chỉ có một lần duy nhất, Việt Cộng pháo kích Đà Lạt trúng ngay chỗ bến xe, nhưng dưới vườn rau nên không có ai thiệt mạng. Đại đội 302 đi vào Núi Voi, bắn chết vào Việt Cộng rồi đem về bỏ ngay cái hố bị đạn pháo kích để làm gương nên từ đó Việt Cộng hết pháo kích Đà Lạt.


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Đài Radar ở Đà Lạt xưa

 Đài Radar ở Đà Lạt xưa

Nhớ hồi nhỏ có phong trào trừ Ma Quỷ, vẽ chữ Vạn của Phật Giáo, không biết người công giáo có vẽ thánh giá trên cửa nhà của họ không. Nghe ngoài chợ kêu là vẽ chữ Vạn trước cửa nhà để quỷ không vào nhà bắt con nít. Mình thuộc dạng khó nuôi nên bà cụ đã cúng mình vào am Mệ Cai Thỏ ở đường Nguyễn Công Trứ, ấp Hà Đông khi xưa nên bà cụ kêu ai vẽ chữ Vạn trên cửa nhà. Ông chồng của mệ làm cai nên họ kêu Mệ Cai.


Sau này lớn lên đọc sách báo mới hiểu là Việt Cộng nằm vùng tung tin “trừ Ma-Quỷ”, nếu dân gian đọc lái là “trừ Mỹ qua”. Dạo ấy xem phim thời sự, thường thấy hình ảnh mấy cô gái Việt Nam, trao vòng hoa cho mấy ông lính mỹ. Sau đó lại có vụ lên Núi Bà (đỉnh Lâm Viên) để lấy nước cam lồ vì có phật Bà về, ngoài chợ thấy họ bán mấy bức hình Phật Bà với bình nước Cam Lồ, bay trên mây. Một hôm, mệ ngoại mình kêu đi với mệ lên chùa Linh Sơn. Tại đây, trước cổng chùa có mấy chiếc xe đò chạy Đà Lạt-Chi Lăng đợi. Mấy bà leo lên với mấy giỏ thức ăn và thức uống.



Trên con đường này, năm 1966, Việt Cộng đã phục kích mấy kỹ sư cua côn ty mỹ đến đặt đài truyền tin, khiến mấy người chết.


Xe chạy đến chân núi Lâm Viên, rồi mọi người xuống. Mệ ngoại kêu mình cầm cái giỏ hoa bông Huệ còn mệ cầm cái giỏ đựng bánh mì. Mệ ngoại đi chậm nói chuyện với mấy bà phật tử khác nên mình đi trước. Có một mình vì mấy ông lớn tuổi đi nhanh hơn, lâu lâu họ hú lên thì mình bắt chước hú theo để theo dõi chỗ họ đi vì đường mòn nên có thể lạc đường. Đó là lần đầu tiên trong đời, mình leo núi, đi một mình  nên sau này, có người nói mình sao không về Đà Lạt leo núi. Mình nói là núi Lâm Viên, cao độ chỉ có 1,600 mét trong khi mình đi bộ leo lên Kilimanjaro cao độ gần 6,000 mét. Nội tập dợt ở Cali không là leo lên trên 3,000 mét cao độ, xem như gấp đôi đỉnh lâm viên Đà Lạt.


Khi đến đỉnh Lâm Viên thì mình chả thấy Phật Bà đâu hết, chỉ thấy mây sương mù. Có 3 ông đứng trước cái am, có tượng phật bà. Hoá ra hình chụp phật Bà đăng vân là đây mà mình tưởng phật bà hiện về. Giúp mấy ông bán hình kiếm tiền bộn. Mình đưa hoa Huệ cho mấy ông đang lo dọn cái am để họ bỏ hoa vào bình rồi ngồi đợi mệ ngoại.



Mình không biết đoạn đường nào Việt Cộng phục kích đoàn convoi. Mình có kể, Việt Cộng hay phục kích lính mỹ trên quốc lộ nên họ phải chế các xe bọc sắt dễ di động để phản kích khi bị phục kích. Nay họ có chế lại mấy loại xe này, bỏ tỏng viện bảo tàng chiến tranh Việt Nam ở Hoa Kỳ 


Lúc này mới thấy ngu vì không cầm cái giỏ kia cho mệ ngoại vì trong giỏ toàn là đồ ăn và thức uống. Mình leo lên đỉnh Lâm Viên năm 8-9 tuổi, không có nước và thức ăn. Đói teo râu. Sau này đi bộ bên Ý Đại Lợi suốt 2 tuần lễ, trưa cũn g không ăn. Cuối cùng thì mệ ngoại cũng lên tới đỉnh, mới tiếp tế cho cái bao tử của mình. Sau khi cúng vái xong thì thiên hạ kéo nhau xuống núi rồi ghé lại cái suối gần đó, lấy chai hứng nước cam lồ đêm về cúng. Họ nói uống nước này sẽ thông mình đỉnh ngộ nên mình uống một ly và ngu đến giờ. Chán Mớ Đời 


Sau này tối tối nhìn về phiá Núi Bà, mình thấy đèn chớp chớp, nghe nói người Mỹ đặt cái đài radar trên đó. Nên người Việt không lên núi Lâm Viên nữa nhưng cũng ngại ra khỏi Đà Lạt vì sợ Việt Cộng nằm vùng chận đường.

người Mỹ đem máy cày lên đây để cày xới, trang bị các đĩa vệ tinh
Bản đồ các đài thông tin ở Đà Lạt và xung quanh. Xem cái này mình mới hiểu lý do người Mỹ đóng quân tại Phan Rang, Nha Trang, và có hệ thống truyền tin để bay lên khu vực Đà Lạt Tuyên Đức khi phải hỗ trợ lính Việt hay Mỹ. Đại khái như đại đội trinh sát 302 đi hành quân thì trực thăng từ Phan Rang bay lên căn cứ của đại đội 302 ở Đơn Dương để bốc họ đi hành quân rồi đón về Đà Lạt. Từ Đà Lạt bay xuống Phan Rang thì không xa lắm theo đường chim bay.
Bản đồ quân đội của Hoa Kỳ khi xưa với địa điểm các đài thôgn tin


Sau này mình thấy mấy tấm ảnh ngoại ô Đà Lạt thì khám phá ra ngoài đài radar trên đỉnh Lâm Viên còn có một đài radar khác mang tên Pr’ Line, nằm trên đường đi về Cầu Đất. Thật ra PR’ Line không phải chủ yếu là một đài radar, mà là một trạm thông tin liên lạc vô tuyến vi ba/troposcatter của quân đội Mỹ. người Việt như mình chả biết gì, cứ thấy mấy cái vệ tinh to đùng là cứ kêu đài radar. Mình có kể vụ người Mỹ có đặt một đài để truyền tín hiệu ở Lào để dẫn đường cho B-52 bỏ bom bắc Việt trong thời chiến tranh khiến Hà Nội  cho đặc công leo núi phía bên sườn tấn công cái đồn này.


PR’ Line Mountain nằm khoảng 17 km về phía đông nam Đà Lạt, tọa độ được tài liệu quân sự ghi nhận khoảng 11.8678°N, 108.5476°E. Đây là một núi cao có vị trí rất thuận lợi để truyền tín hiệu. Aibuoofn đời thì đọc đường dẫn để hiểu thêm về hệ thống truyền tin này.


https://en.wikipedia.org/wiki/Tropospheric_scatter

Trong tài liệu của U.S. Army, địa điểm này được gọi là: “PR’ LINE MOUNTAIN SIGNAL FACILITY” và là một mắt xích quan trọng của Integrated Wideband Communications System (IWCS). Hệ thống này dùng các thiết bị tropospheric scatter (tán xạ đối lưu) và microwave để truyền thông tin quân sự khoảng cách rất xa.


Mạng liên lạc nối nhiều địa điểm quân sự quan trọng ở miền Nam Việt Nam, trong đó có: Pleiku → Nha Trang → PR’ Line → khu vực Sài Gòn, cùng nhiều trạm khác như Đà Nẵng, Huế, Quy Nhơn, Vũng Tàu và Cần Thơ. 


Vì vậy, nếu người dân Đà Lạt ngày xưa gọi nơi đó là “đài radar”, có thể là do trên đỉnh núi có những anten/parabol rất lớn, trông giống các hệ thống radar. Nhưng chức năng chính mà tài liệu Mỹ xác nhận là signal/communications facility, không phải radar phòng không để chống máy bay Hà Nội.







Địa điểm này còn nổi tiếng vì một cuộc phục kích ngày 25 tháng 11 năm 1966. Một đoàn xe chở nhân viên Page Communications Engineers và binh sĩ Mỹ đang đi từ Đà Lạt lên PR’ Line thì bị Việt Cộng phục kích. 8 nhân viên dân sự Mỹ và 1 quân nhân Mỹ thiệt mạng; ngoài ra còn có quân nhân Việt Nam Cộng hòa tử trận. Page Communications là công ty được quân đội Mỹ thuê để xây dựng hệ thống thông tin IWCS tại Việt Nam. 


Ở Đà Lạt, ngoài đài radar trên nÚi Bà, còn có “đài radar ở Cầu Đất”. Tài liệu ghi rằng đầu thập niên 1970, hệ thống tiếp sóng truyền hình Đà Lạt sử dụng đài radar tại Cầu Đất. Ngoài ra, một tài liệu hình ảnh của Không quân Mỹ ghi rõ tuyến Phan Rang–Đà Lạt Radar/Radio năm 1966. Có lẻ vì vậy để giúp máy bay Mỹ nhất là trực thăng đóng tại Phan Rang như phi đoàn của ông Bill Robie, được truyền tin mỗi lần bay lên Đà Lạt.


1. PR’ Line Mountain – hình ảnh rõ nhất

Đây là PR’ Line Mountain Signal Facility – IWCS Site 23.

Một bức ảnh chụp từ trên không năm 1967 cho thấy rất rõ:

  • nhiều anten parabol lớn
  • hai cụm anten dạng tấm lưới hình chữ nhật rất lớn
  • các nhà máy phát/thu và nhà ở
  • đường nội bộ chạy quanh khu vực
  • trạm được xây trên sườn núi.

Nguồn quân sử Hoa Kỳ xác nhận PR’ Line là một “key site” của Integrated Wideband Communications System (IWCS), nằm ở vị trí trung tâm giữa Sài Gòn – Nha Trang – Pleiku


Tài liệu lịch sử chính thức của TP. Đà Lạt ghi rằng trong giai đoạn 1965–1975, chính quyền cũ thiết lập Cầu Đất telecommunication station, còn gọi là intercommunication radio. Nó sử dụng sóng viba với phương pháp tropospheric diffusion/troposcatter, và kết nối vào hệ thống thông tin chung ICS của quân đội Mỹ. Nhiệm vụ là thông tin đường dài phục vụ quân sự, đồng thời dành một số kênh cho dân sự. 


Bản đồ Đà Lạt năm 1972

 Joint Operations Graphic 1:250,000 của U.S. Defense Mapping Agency, tờ NC 49-1 – Da Lat, Vietnam, 1972. Đây là bản đồ quân sự chính thức thời chiến, rất hữu ích để xác định vị trí các núi, đường và cơ sở quân sự. 

Bản đồ quân sự Đà Lạt 1972 – GeoPDF⁠

Điểm đáng làm tiếp là đối chiếu bản đồ 1972 với ảnh vệ tinh hiện nay, từ đó xác định chính xác vị trí của:

Đà Lạt → Lang Biang → PR’ Line → Cầu Đất

và các tuyến liên lạc giữa chúng. Có nhiều tấm ảnh nhưng không tải lên đây hết.


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Cầu Quẹo Đà Lạt xưa

 Cầu Quẹo xưa


Hôm kia thấy cô nào gốc Đà Lạt xưa, tải tấm ảnh nhà của cô ta ở Ngã Ba Chùa khiến mình thật kinh vì mấy tấm ảnh này kéo mình về ký ức xưa của Đà Lạt. Khúc này có vài người học chung với mình khi xưa ở Yersin. Như Phong Hạnh, nhà cây xăng Esso, nhà thuốc sâu Bích Châu, nhà Hồng Đức, … mình học chung với Nguyễn Văn Khoa, nhà trên số 4, hay cúp cua đi đá banh với mình ở sân Cô Giang, bố mẹ cho thuê tiệm bánh Bảo Hiên Rồng Vàng, chuyên bán bánh bánh xu-xê hay phu-thê cho dân đi hỏi vợ. Mình được ăn bánh của tiệm này một lần khi bà dì mình có người đi hỏi. Mình xin phép tác giả, con của tiệm Vinaco đăng lại mấy tấm ảnh này.

Đường Phan đình Phùng trước 75, chụp chỗ cây xăng Esso. Bên trái thấy tiệm Vinaco, sửa xe Lambretta. Chỗ cột điện là cái cầu mà khi xưa lúc chưa làm bằng xi-măng, người ta gọi là Cầu quẹo. Lý do là chỗ khu chợ Cây, có con đường lên chợ là đường Duy Tân, thời tây gọi là Maréchal Foch, chạy từ bùng binh Hải Thượng, chạy lên khu Hoà BÌnh. Dạo ấy đường Duy Tân chỉ một chiều như đường Minh Mạng, Tăng Bạt Hổ, còn chạy xuống khu người Việt thì bằng đường Minh Mạng, Tăng Bạt Hổ, còn đi xa thì đường Hàm Nghi rồi đến Ngã Ba Chùa thì quẹo lại. Có lẻ từ đó dân gian Đà Lạt xưa gọi là Cầu Quẹo. Còn đường Phan Đình Phùng là đường Cầu Quẹo. Có một chị kể là có lần nói chuyện với một bà lão dân Đà Lạt, bà ta kêu đường Cầu QUẸO KHIẾN CHỊ TA KÊU BÀ NÀY GÁI FNEEN LỘN XỘN ĐẦU ÓC ĐẾN KHI ĐỌC Mực Tím Sơn Đen thì mới thấy mình nghĩ sai cho bà lão Đà Lạt xưa.


Hôm trước mình có tải một bài về ty thông tin Đà Lạt khi xưa bị đập phá để xây cầu thang nối Khu Hoà Bình với chợ Đà Lạt lầu 2. Trước đó khi có chợ Cây thì họ có “Phòng Thông Tin” ở khu Chợ Cây, sau bị cháy nên họ cho xây Chợ Cũ và ty thông tin. 2 ông tây này mình có truy ra tên tuổi và có kể trên bờ lốc.

Sau Mậu Thân, nhà Khoa trên Số 4 banh ta lông nên dọn về ngã ba chùa, ở lầu trên còn phía dưới vẫn cho Bảo Hiên Rồng Vàng thuê. Phan thị Thu Thuỷ, người em tên Tuấn, ở bên Bảo Hiên Rồng Vàng còn đối diện có tên Cường thì phải, khi xưa hay chạy chiếc xe Honda Monkey. Nhà ngay góc đường mòn băng qua vườn ông Ba Đà đến đường Hai Bà Trưng. 

Nhìn qua đường Phan Đình Phùng thì thấy tiệm bán thuốc sâu Bích Châu, có con học Yersin, thấy 1 chút tiệm Bảo HIên Rồng Vàng
Hình này thì thấy mấy thùng gỗ đựng rau cải cho lính mỹ, chất đầy chỗ vạc đất này bên phải

Còn học Văn Học thì có Nguyễn Đắc Hớn, nhà bán phân bón cạnh tiệm Vinaco mà ông cụ mình hay mua ở đây khi nhà có vườn trong Suối Tía. Hồ Thanh Hải, có anh Hồ Thanh Hỷ học chung với mình hồi nhỏ ở Yersin. Hình như gia đình hai anh em này, trước khi dọn qua đường Phan Đình Phùng, ở dốc từ đường Thi Sách lên Calmette, cạnh nhà ông bà ấm Thảo. Cao Minh Đức còn bà 10 Võ có tiệm thuốc Tây ngay ngã ba chùa , Nguyễn Lương Đô…. Còn học Thái Cực Đạo có Dũng Lasan. Người to đùng, rất dễ thương, hiền lành dù rất giỏi võ.


Nhớ có ông cán sự ty công chánh, dấu tên, chạy chiếc công xa ở khu vực này, lớ quớ sao cán một thằng bé chết tươi. Để cứu ông ta khỏi ngồi tù, cấp trên kêu ông ta đi công tác. Tuy phải đền cho gia đình thằng bé.

Hình chụp từ trong tiệm ra nên bị chói, thấy trạm giảm điện thế cạnh trạm cây xăng Esso. Xa xa trên dốc Hàm Nghi, có mấy nhà thuộc cư xá công chức. Sau Mậu Thân họ có đập vài căn để làm hợp tác xã rau cải Đà Lạt, rồi từ từ làm đồn Nhân Dân Tự vệ. Tỏng một hai cái nhà phái sau trụ điện giảm thế là nhà xay bột. Lâu lâu nhà mình đổ bánh căn hay bánh xèo thì hay đem gạo đến đây chiều trước thì hôm sau, ghé lại lấy. Mình gửi mấy tấm ảnh cho chị bạn ở cạnh Bảo Hiên Rồng Vàng thì được tin nhắn như sau: “Hai ông bà Vinaco rất hiền lành, con của ông bà lúc đó còn nhỏ mình không còn nhớ.”


Khúc này có chiếc cầu mà người Đà Lạt xưa hay gọi Cầu Quẹo và đường Phan Đình Phùng trước 75 là đường cầu quẹo. Thời tây thì họ gọi đường này là Rue des Jardins. Mình nhớ mại mại chỗ này có con suối nên ty công chánh có làm một cái cầu. Họ đặt mấy ống cống to đùng ở dưới rồi bỏ đất đá trên rồi cán nhựa đường để nước trên cao từ ấp Mỹ Lộc, chùa Linh Sơn , dốc Hàm Nghi chảy xuống, thoát qua đường chảy đến con suối từ Mả Thánh chảy về suối Cam -Ly. Trước thời ông Diệm, cầu làm gỗ như cầu Bá Hộ Chúc sau đó thời ông Diệm thì bắt đầu làm Cầu bằng xi-măng cốt sắt. Dạo đó mình học vườn trẻ Ấu Việt nên ngày ngày đi ngang cầu Bá Hộ Chúc. 


Ngay ngã ba có cây xăng Esso mà người Đà Lạt hay gọi cây xăng ngã ba chùa. 

Đây hình của anh Thi Đà Lạt gửi cho mình, xin phép đăng lên đây để cho người Đà Lạt xưa tìm lại chút hình ảnh xưa. Đám tang ông nội anh ta, đám tang đi từ Suối Cát Nam thiên đến Mả thánh, đây là chỗ Ngã Ba Chùa, cây xăng Esso, (cây xăng Ngã Ba Chùa) có trạm điện giảm thế bên cạnh, phía sau thấy dãy nhà của bà Mười Võ. Mình có kể rồi trên bờ lốc
Thấy cái dốc Hàm Nghi chạy xuống rồi chia ra làm 3, có cái tam giác là trạm biến thế và cây xăng. Thấy dãy nhà của bà Mười Võ, mẹ của Cao Minh Đức học 12 A trường Văn Học xưa. Sau đó có thấy sơ sơ trường của mấy bà sơ Trinh Vương
Đường Cầu Quẹo (Phan Đình Phùng) thấy tiệm Đức Lợi, khúc này chỗ tiệm của ông bà Sơn Hà, bán gạo, nhớ bên cạnh có tiệm trại hòm. Phía xa thấy trên đồi Hàm Nghi, nhà thờ Tin Lành

Cuốn vỡ của Hồ Thanh Hy, học chung với mình ở Yersin. Sau này nghe anh ta kể là thầy dạy cô em mình. Nay ở San Diego. (Còn tiếp)


Khi nào rảnh thì kể tiếp. Nhìn hình ảnh về Đà Lạt nhiều quá nên hoa cả mắt. Có mấy tấm ở đường này nhiều lắm mà mệt mắt nhìn.


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nah